Lá Số
DANH HỌA PABLO PICASSO
1881-1973
Pablo Ruiz
Picasso (sinh ngày 25 tháng 10 năm 1881 lúc 00g42 nhằm ngày 03 tháng 9 năm Tân Tị, giờ Tý),
thường được biết tới với tên Pablo Picasso hay Picasso , là một họa sĩ và nhà
điêu khắc người Tây Ban Nha. Picasso là con đầu lòng của ông José Ruiz y
Blasco và bà María Picasso y López. Ông được đặt tên rất dài là Pablo Diego
José Francisco de Paula Juan Nepomuceno Maria de los Remedios Cipriano de la
Santísima Trinidad Clito Ruiz y Picasso.
Ngay từ khi còn
nhỏ, Picasso đã bộc lộ sự say mê và năng khiếu trong lĩnh vực hội họa, theo mẹ
ông kể lại thì từ đầu tiên mà cậu bé Pablo nói được chính là "piz",
cách nói tắt của từ "lápiz", trong tiếng Tây Ban Nha có nghĩa là
bút chì. Cha của Picasso là một họa sĩ chuyên vẽ chim theo trường phái hiện
thực, ông José còn là một giảng viên nghệ thuật và phụ trách bảo tàng địa
phương, trường Mỹ thuật công nghệ tạo hình của Barcelona. Vì vậy, Picasso có
được những bài học đầu tiên về nghệ thuật chính từ cha mình.
Vào Học viện mỹ
thuật (Academia de San Fernando) tại Madrid được chưa đầy một năm, năm 1900
Picasso đã bỏ học để sang Paris, trung tâm nghệ thuật của Châu Âu thời kỳ đó.
Tại thủ đô nước Pháp, ông sống cùng Max Jacob, một nhà báo và nhà thơ, người
đã giúp Pablo học tiếng Pháp. Đây là giai đoạn khó khăn của người họa sĩ trẻ
khi ông phải sống trong cảnh nghèo túng, lạnh lẽo và đôi khi tuyệt vọng, phần
lớn tác phẩm của Pablo đã phải đốt để sưởi ấm cho căn phòng nhỏ của hai người.
Năm 1901, cùng với người bạn Soler, Picasso đã thành lập tờ tạp chí Arte
Joven ở Madrid.
Số đầu tiên của tạp chí hoàn toàn do Pablo minh họa.
Trong những năm đầu
của thế kỉ 20, Picasso thường xuyên qua lại giữa hai thành phố Barcelona và
Paris. Tại Paris, Picasso kết bạn với rất nhiều nghệ sĩ nổi tiếng ở khu
Montmartre và Montparnasse, trong đó có người sáng lập trường phái siêu thực
André Breton, nhà thơ Guillaume Apollinaire và nhà văn Gertrude Stein. Năm
1911, Picasso và Apollinaire thậm chí đã từng bị bắt giữ vì bị nghi ăn trộm bức
tranh Mona Lisa khỏi Bảo tàng Louvre nhưng cuối cùng hai người cũng được tha
vì vô tội.
Năm 1904, ông bắt
đầu mối quan hệ lâu dài với Fernande Olivier, người phụ nữ xuất hiện trong rất
nhiều tác phẩm Thời kỳ Hồng của họa sĩ. Thời kỳ này được gọi là Thời kỳ Hồng
vì đây là thời kỳ ông toàn dùng màu hồng nhạt mềm mại để làm nền tranh cho
mình, thời kỳ Hồng của ông được tồn tại trong 3 năm. Sau khi bắt đầu nổi tiếng
và trở nên giàu có, Picasso đã bỏ Olivier để quan hệ với Marcelle Humbert mà
ông gọi đơn giản là Eva, chủ đề của rất nhiều bức tranh theo trường phái lập
thể của ông. Sau đó ông còn đi lại với nhiều người phụ nữ khác mặc dù đã có vợ
và con.
Tác phẩm Các
tác phẩm của Picasso thường được phân loại theo các thời kỳ khác nhau. Tuy rằng
tên gọi các thời kỳ sáng tác sau này của họa sĩ còn gây nhiều tranh cãi, người
ta phần lớn đều chấp nhận cách phân chia thời kỳ sáng tác của Picasso thành :
-Thời kỳ Xanh (1901–1904): Có lẽ cách dùng
màu xanh thẫm của họa sĩ chịu ảnh hưởng từ chuyến đi xuyên Tây Ban Nha và sự
tự sát của người bạn Carlos Casagemas.
-Thời kỳ Hồng (1904–1906):
Năm 1904 tại Paris, Picasso gặp Fernande Olivier, một
người mẫu cho các họa sĩ và nhà điêu khắc, rất nhiều tác phẩm của ông trong
thời kỳ này chịu ảnh hưởng bởi mối quan hệ nồng ấm giữa hai người.
-Thời kỳ Ảnh hưởng Phi châu - điêu khắc (1908–1909): bắt đầu với tác phẩm nổi tiếng Những cô
nàng ở Avignon (Les Demoiselles d'Avignon) lấy cảm hứng từ những đồ tạo
tác Phi châu. Ông cho rằng mọi loại nghệ thuật phải tự học được cái hay của
nhau. Ông chọn châu Phi làm cảm hứng của mình bởi tính Lập thể rõ ràng của
nó.
Những cô gái ở Avignon
-Thời kỳ Lập thể phân tích (1909–1912): Chủ
nghĩa Lập thể phân tích là phong cách vẽ mà Picasso đã phát triển
cùng Georges Braque theo đó sử dụng những màu đơn sắc ngả nâu cho
các tác phẩm.
-Thời kỳ Lập thể tổng hợp (1912–1919): Đây
là sự phát triển chủ nghĩa lập thể của Picasso với việc sử dụng nghệ thuật cắt
dán bằng các chất liệu vải, giấy báo, giấy dán tường để mô tả đề tài tĩnh vật
và nhân vật.
-Chủ nghĩa cổ điển và siêu thực: Sau Thế
chiến thứ nhất, Picasso bắt đầu thực hiện các tác phẩm theo trường phái tân
cổ điển (neoclassicism). Một trong những tác phẩm nổi tiếng nhất của
Picasso, bức Guernica đã được sáng tác trong thời kì này. Bức tranh mô tả
cuộc ném bom vào Guernica của phát xít Đức trong Nội
chiến Tây Ban Nha.
Picasso và bức Guernica
-Giai đoạn cuối đời: Picasso là một trong 250
nhà điêu khắc tham gia Triểm lãm điêu khắc quốc tế lần thứ 3 tổ chức tại Bảo
tàng mỹ thuật Philadelphia vào mùa hè năm 1949.
Trong thập niên 1950, họa sĩ một lần nữa
thay đổi phong cách sáng tác, ông thực hiện các bức tranh dựa trên phong cách
của các bậc thầy cổ điển như Diego Velázquez, Goya, Poussin, Édouard
Manet, Courrbet và Delacroix.
Khi Picasso qua đời, rất nhiều tác phẩm
do họa sĩ sáng tác vẫn thuộc quyền sở hữu của ông
vì Picasso cảm thấy
không cần thiết phải bán chúng. Thêm vào đó, ông còn có một bộ sưu tập
rất giá trị các
tác phẩm của những họa sĩ yêu thích như Henri Matisse. Vì Picasso không
để lại di chúc, một phần bộ sưu tập này được dùng để trả thuế cho chính phủ
Pháp và nó được trưng bày tại Bảo tàng Musée Picasso tại Paris. Năm
2003, những người thân của họa sĩ đã cho khánh thành một bảo tàng tại thành
phố quê hương ông, Málaga, đó là Bảo tàng Museo Picasso Málaga.
Pablo Picasso từ
trần ngày 8 tháng 4 năm 1973 tức là ngày 06-3-Quý Sửu tại Mougins, Pháp,
trong khi ông cùng bà Jacqueline đang chủ trì một buổi tiệc với bạn bè, thọ
93 tuổi. Tác phẩm ông để lại gồm có 1.800 bức tranh sơn dầu, 3 vạn bản tranh,
7.000 bức ký họa phác thảo và có khá nhiều tác phẩm khó hiểu. Picasso được an
táng tại công viên Vauvenargues ở Vauvenargues, Bouches-du-Rhône,
Pháp.
Picasso có vài bức
tranh nằm trong danh sách những tác phẩm nghệ thuật đắt giá nhất thế giới:
-Bức "Nude
on a black armchair" - được bán với giá 45,1 triệu USD năm 1999.
-Bức Les
Noces de Pierrette - được bán với giá hơn 51 triệu USD năm 1999.
-Bức Garçon
à la pipe - được bán với giá 104 triệu USD tại nhà đấu
giá Sotheby's ngày 4 tháng 5 năm 2004 đã lập kỉ
lục thế giới về giá cho một tác phẩm nghệ thuật.
-Bức Dora
Maar au Chat - được bán với giá 95,2 triệu USD tại nhà đấu giá Sotheby's
ngày 3 tháng 5 năm 2006.
(Tổng hợp từ Wikipedia.org)
Lá
Số TỬ VI
Mệnh, nội là Tử Phủ Vũ Tướng
Liêm, ngoại Sát Phá Tham. THÂN Mệnh đồng
cung với Vũ Khúc Xương Khúc Khoa Kị tài giỏi, thêm Khôi Việt quý hiếm kì tài.
Càng hay hơn khi Phủ Tướng có Cáo Phụ
. Rất độc đáo và hiếm có một bộ TPVTL hợp cách văn khoa tinh nhiều như thế. Chưa
kể Tả Hữu nhất hô bá nặc nữa. Nếu Mệnh có Quyền chắc là ông đã tham chính hoặc
vào quân đội để “nhất hô bá nặc”. Tuy thế, ngày nay khi nhắc đến tên ông
không ai có thể phủ nhận Phủ Cáo và thán phục vì Vũ Đào Khoa Khúc Kị tài hoa lạ kì của ông.
Đặc biệt Mệnh lại có Linh Tinh
không bị phá cách nên càng linh diệu, Việt Linh Khoa Kị ngôi sao sáng chói.
Cũng nhờ cách Kình Linh Khôi Việt mang ý chống lệnh, không theo cũ chẳng theo
mới, ông đã tạo nên trường phái Lập Thể, phải có Đào Quả Khoa Kị thì ông Vũ Khúc tài năng mới tạo ra bước
ngoặt nỗi trội với kết quả xuất chúng như thế. Thật ra ông là người chống chiến tranh và nó luôn tiềm ẩn trong tranh của ông.
Phủ Khoa tức là môn học về
quét, phủ, sơn, lấp...Trong xây dựng là nghề sơn. Hội họa cũng quét phủ thế
thôi.
Một sự thú vị nữa là từ Tật
Ách cung ta thấy Thiên Hình ngộ Tam
không, nghĩa là hình dáng, hình dạng không giống ai cả, đi với Cự Cơ Đồng và
Thái Dương xung, rõ ràng cả cơ thể, miệng, mắt, bụng gì cũng chả giống ai. Lập
thể, được thể hiện từ góc nhìn nhiều chiều không gian hội tụ lại. Tranh của
Picasso, vì thế, không dễ nhìn và khó hiểu.
Vũ Tướng có Đào Hồng Khôi Việt,
Picasso có trang tình sử khá dày.
Bước vào đại vận 93-102, Thiên
Cơ có Bạch Hổ gặp Lưu Triệt hội Tang
Khốc thêm từ Ách cung có Hình gia Lưu Việt, tiểu vận Phi Hỏa Lưu Khôi Lưu
Tang nhị hợp Mệnh Linh Kị, vậy là ngôi
sao kì lạ đã bay vào hư vô. Ông mất khi cùng vợ chủ trì buổi tiệc với bạn bè.
Câu hỏi:
Nếu
Thiên Hình ở Mệnh (hội mệnh) với lá số như Picasso, bạn nghĩ gì?
|
Chủ Nhật, 14 tháng 9, 2014
Danh Họa Picasso
16:32
No comments
Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014
Anh Hùng Áo Vải Đất Lam Sơn
Lá Số
Vua LÊ LỢI
1385-1433
Tượng Vua Lê Lợi ở Thanh Hóa
Tổ bốn đời của Lê Lợi là Lê Hối,
người Thanh Hóa. Một hôm đến vùng núi Lam Sơn thấy cảnh đất lành
chim đậu, ông dời nhà về đây.
Lê Lợi sinh vào giờ Tý ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức
ngày 10 tháng 9 năm 1385 đời nhà Trần tại quê mẹ ở làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương (sau là Thủy
Chú, nay là Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). . Bố ông là hào phú Lê
Khoáng lấy bà Trịnh Thị Ngọc Thương sinh được ba người con: Lê Học, Lê
Trừ và Lê Lợi.
Lê Lợi vừa lớn lên đã chứng kiến sự sụp đổ
của triều Trần, những cuộc khởi nghĩa của nông dân và những cố gắng cải
cách của triều Hồ. Những biến động chính trị-xã hội đó hẳn có ảnh hưởng đến nhận
thức, tư tưởng của Lê Lợi, nhưng có lẽ chưa tác động bao nhiêu đến địa vị và
chí hướng quân trưởng của miền núi rừng Lam Sơn xa xôi.
Sau khi bức ép vua Trần dời đô từ Thăng
Long vào Tây Đô (Thanh Hóa) và giết hàng loạt quần thần trung
thành với nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý
Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu
là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.
Triều
đình nhà Minh (Trung Quốc), vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu, đã
nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần để đưa quân tràn vào đất Việt
năm 1407. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng
6 năm 1407, thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừng và Hồ
Hán Thương. Vương triều Hồ và nước Đại Ngu sụp đổ.
Nhà Minh thực hiện chính sách xóa bỏ nền Văn
minh sông Hồng bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất
cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn
đàn ông người Việt, khiến cư dân Việt rất uất ức và căm giận. Hơn 1.000 năm,
các triều đình Trung Quốc không đồng hóa được văn hóa Việt, nên việc
làm của nhà Minh đã đem lại một kết cục xấu cho sự đô hộ của họ.
Khởi nghĩa Lam Sơn
Đầu năm Bính Thân (1416) Lê Lợi cùng 18 người
bạn thân tín nhất, cùng tâm huyết và chí hướng, trong đó có Nguyễn Trãi, làm lễ
thề kết nghĩa anh em, nguyện sống chết “chung sức đồng lòng chống giữ địa
phương để trong cõi được ở yên".
Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt,
đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn
An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú,... tất cả 50 tướng văn và tướng võ chính thức
phất cờ khởi nghĩa. Đồng thời ông tự
xưng là Bình Định Vương và kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân
xâm lược Minh cứu nước.
Trong thời gian đầu, lực lượng
của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng
được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động trong thời này chủ yếu
ở vùng núi Thanh Hóa. Có những lúc Lê Lợi và quân Lam Sơn phải trốn chạy.
Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút
chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở
Sách Khôi năm 1421. Một lần bị quân Minh vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi
năm 1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương, anh em kết nghĩa của Lê Lợi
là Lê Lai theo gương Kỷ Tín (tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang thời chiến tranh
Hán-Sở) phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn một toán quân ra ngoài nhử quân Minh.
Quân Minh tưởng là bắt được chủ tướng Lam Sơn nên lơ là phòng bị, Lê Lợi và các
tướng lĩnh thừa cơ mở đường chạy thoát. Lê Lai bị quân Minh giải về Đông Quan
và giết chết.
Ngoài quân Minh, Lê Lợi và quân Lam Sơn còn
phải đối phó với một bộ phận các tù trưởng miền núi tại địa phương theo nhà
Minh và quân nước Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa theo. Dù gặp nhiều gian nan,
quân Lam Sơn mấy lần đánh bại quân Ai Lao. Tuy nhiên do lực lượng chưa đủ mạnh
nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải ẩn náu trong rừng núi, nhiều lần phải
ăn rau củ và măng tre lâu ngày; có lần ông phải giết cả voi và ngay cả con ngựa
đang cưỡi của mình để cho tướng sĩ cùng ăn.
Trước
tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm 1423. Đến năm
1424, khi quân lực và lương thực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giết sứ
giả, nên Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.
Vương Thông nghe tin hai đạo
viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý cho giảng
hòa để quân Minh rút về nước. Ông cùng Vương Thông tiến hành làm lễ thề trong
thành Đông Quan, hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh Mùi (1427) rút quân về.
Lê Lợi đứng thay Trần Cảo là
người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ dâng biểu cho nhà Minh xin
được phong. Vua Minh Tuyên Tông biết Lê Lợi không có ý lập tôn Cảo
nhưng vì bị thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương.
Tháng chạp, Vương Thông rút
quân về nước. Các tướng muốn giết họ để trả thù tội ác đối với người Việt trong
suốt thời gian Việt Nam dưới ách đô hộ của triều Minh, Lê Lợi không đồng tình
vì muốn giữ hòa khí hai nước, cấp thuyền và ngựa cho quân Minh về.
Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo
bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân
Minh. Đây là áng văn chương nổi tiếng, rất có giá trị đời Lê, được coi là bản
tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.
Trị vì:
Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm 1428,
tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên triều Hậu Lê. Ông khôi phục quốc
hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long
thành Đông Kinh vào năm Thuận Thiên thứ hai (1430).
Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng những sự
kiện mà Lê Lợi giết hại các triều thần thân tín, trên thực chất là kết quả của
sự thắng thế của phe Lê Sát trong triều đình mà thôi. Hơn nữa, những hành động
của vua Thái Tổ để bảo vệ sự thống trị của nhà Lê cũng mang tính hệ thống. Đầu
tiên là giết Trần Cảo. Sau đó giết Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần. Tất cả
những hành động đó đều nhằm khiến thiên hạ hết sự nhớ tiếc nhà Trần. Và Lê
Tư Tề cũng là nạn nhân trong đó.
Vua Lê Thái Tổ ở ngôi được 5 năm thì qua
đời vì bạo bệnh vào ngày 22 tháng 8
nhuận âm lịch năm 1433 Quý Sửu, hưởng dương 49 tuổi. Vì nhớ
công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại
đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại
câu: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi". Thật ra việc này có nhiều bí ẩn.
Lê Thái Tổ được an táng tại
Vĩnh Lăng, Lam Sơn. Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức là
vua Lê Thái Tông.
Sau thời kỳ độc lập hơn 400 năm kể từ thế kỷ
10, Đại Việt có nguy cơ trở lại thành quận huyện của Trung Hoa.
Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai trị của nhà
Minh tại Đại Việt và chấm dứt hẳn sự đô hộ của Trung Quốc thời phong
kiến. Bởi công lao to lớn đó của ông nên đời sau còn nhớ, dù nhà Lê khi bị nhà
Mạc cướp ngôi vẫn là một nguyên nhân khiến nhà Lê có thể trung hưng
(1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu triều Lê không còn nắm được thực quyền
thì trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Chúa Trịnh sau
này làm phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi nhà Lê cũng bởi sợ dư
luận còn nhớ công lao giành lại độc lập cho đất nước của nhà Lê.
Về cai trị, ông cũng là người thiết lập lại
trật tự, quy củ của chế độ phong kiến các triều đại Lý, Trần trước đây mà các
thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.
Đến cuối đời, rất tiếc, ông đã có những quyết định sai lầm dẫn đến cái
chết của những trung thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Từ trước đó, khi về
trí sĩ, Trần Nguyên Hãn đã nói riêng với người thân cận: Nhà
vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho nên, ta không thể yên hưởng vui
sướng được. (Việt vương Câu Tiễn có tướng cổ dài, mép quạ, tức là
tướng chim ưng. Có thuyết cho rằng Trần Nguyên Hãn trực tiếp nói câu này với
Nguyễn Trãi.)
Tuy nhiên, xét về tổng thể Lê
Lợi vẫn là một vị vua tài năng, có công lớn trong việc đánh đuổi quân Minh,
giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam.
(Tổng
hợp theo Wikipedia)
Bia Vĩnh Lăng
LÁ SỐ TỬ VI:
Đây là lá số mẫu mực cho bộ Phi Phượng Hổ tại Mệnh.
-Lê Lợi Mệnh THÂN đồng cung VCD tại Dậu có Cự
Cơ xung, nói cách khác nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ Đồng khá phức tạp nên suốt
đời cũng không mấy yên thân. Con nhà hào phú giàu có nhờ song Lộc chiếu Mệnh
THÂN. Cự Kị chí hướng khác thường, phi
thường nhờ thêm Phi Phượng Quyền.
Dù có Hóa Kị nhưng đi với Tứ Linh lại hay,
gia thêm Quyền thành cách Quyền Khốc Phượng Kị uy danh phi thường kì lạ, bộ
Thanh Phi Phục hợp với Cơ Lương là lương dân hiền hòa nhưng có Cự Binh nên phải
khởi binh, vì thế mới gọi là anh hùng áo
vải. Cái xấu nơi đây chính là Cơ Tang Hổ Hỏa tại THÂN thì dù là con Hổ uy
thế gầm vang cũng khó mà tránh khỏi cái THÂN yểu thọ. Nhờ bộ Thanh Phượng Tuế ngài ghi danh lịch sử và mãi được tôn thờ.
Thêm nữa, từ Phụ Tử Nô thấy Lưu Quả Tấu Hồng
Ân Xương Cáo là khắc ghi những lời ca ngợi ân đức và công lao (Đà Lực) của
ngài, thực tế chính Nguyễn Trải đã soạn và cho khắc lên bia Vĩnh Lăng sau khi
ngài mất 2 tháng. Ta thấy Tử Vi hay kì lạ thật!.
-Đại vận
32-41, Thất Sát Đào Hoa chọn lựa chiếm đoạt, nói hay một tí là tạo ra cuộc chiến,
dù vậy với Triệt Đà gian khổ và thất bại không phải là ít, phải đến 10 năm sau (1428) vào vận Lương Quyền Phục mới đem yên bình trở lại. Khởi nghĩa, Cự Binh nhưng
qua tiểu vận Thiên Tướng (năm Mậu Tuất 1418) mới là khởi nghĩa thật sự, nhờ Tử Vi quyết
định hành động, gia thêm Kình Hình Linh mạnh mẽ hơn khi được Khôi Việt xúc tác
cho Mệnh Cự Cơ có cơ hội hành động chống phá. Phá dữ dội vì có Phá Quân gặp Đại
Hao rống lên tiếng “Sát”. Cũng là vận Sát Đào này nhưng nếu có Diêu Hư thì chỉ
biết sát gái thôi.
-Về việc sát hại công thần, Mệnh
VCD chi phối quá mạnh từ Di cung “Cát xứ tàng hung” Cự Tồn Kị và bọn Tả Hữu KK gây
thị phi, nên Lê Lợi đã làm điều sai trái Phi Liêm. Ở đây còn tiềm ẩn cách Kình
Đà hiệp Kị cho nên ngài cũng rất khổ tâm khi phải làm điều đó, hơn nữa Kị tạo
nên sự đa nghi quá mạnh cho VCD, nhất là Cự Môn có tính lo sợ . Sự lo lắng cho ngôi báu của con cùng với sự dèm pha, xúi bẩy của bọn xu
nịnh đã đưa Lê Lợi đến hành động sát hại hai công thần và cũng là hai người bạn
chiến đấu đã từng vào sinh ra tử hồi hồi bình Ngô là Trần Nguyên Hãn và Phạm
Văn Xảo.(theo Danh nhân Hà Nội).
-Năm Quý Sửu 1433, dù là đại vận
(42-51) có Âm Lương may mắn, nhưng bị Không Kiếp xung cũng đã làm thay đổi
lương tâm con người mang ngôi sao vốn dễ lo âu bất mãn và Kị hội chiếu thêm Lưu
Việt phát nạn, tiểu hạn tại Phối có Bệnh Phù Hư Hỏa Kiếp, với Cơ Tang lại gia
Lưu Tang bất lợi thêm Lưu Đà Hư, Kị lại gặp Triệt và Lưu Triệt xung. Ngài mất
vì bệnh hiểm nghèo. Để lại nỗi buồn đau cho đất nước Ấn Tang Kiếp.
Tật Ách cung Việt Linh Hình,
lại có Khoa nếu ở thời nay có thể sống nhờ phẩu thuật.
Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014
giao hưởng số 9
BEETHOVEN VÀ BẢN GIAO HƯỞNG SỐ 9
Hoàn
cảnh sáng tác
Hiệp hội London (The Society of London -
sau này là Royal Philharmonic Society) đặt hàng bản giao hưởng vào năm 1817.
Beethoven bắt đầu làm việc với bản giao hưởng cuối cùng vào năm 1818 và kết
thúc vào đầu năm 1824. Khoảng 10 năm sau bản giao hưởng số 8. Tuy nhiên,
Beethoven bắt đầu sáng tác tác phẩm này sớm hớn. Ông đã muốn đặt An die
Freude vào nhạc rất sớm từ năm 1793. Ông đã làm điều đó, nhưng thật không may
tác phẩm này bị mất vĩnh viễn. Từ chủ đề cho chương scherzo có thể lần ngược
về bản fugue được viết vào năm 1815.
Đoạn mở đầu cho phần thanh nhạc của bản
giao hưởng gây ra rất nhiều khó khăn cho Beethoven. Bạn ông, Anton Schindler,
sau này kể lại: "Khi anh ấy bắt đầu sáng tác chương 4, sự nỗ lực bắt đầu
như chưa bao giờ có. Mục đích là tìm ra cách đi vào phần mở đầu của đoạn tụng
ca của Schiller. Một hôm Beethoven nhảy vào phòng và la lớn "Tôi tìm ra
rồi, tìm ra rồi" Sau đó anh ấy cho tôi xem phác thảo của những từ
"cho chúng tôi hát bản tụng ca của Schiller bất tử". Tuy nhiên, đoạn
mở đầu đó đã không có trong sản phẩm cuối cùng, và Beethoven đã trải qua rất
nhiều thời gian viết lại phần đó cho đến khi nó thành hình dáng như chúng ta
thấy ngày hôm nay
National Youth Choir of Great Britain
West-Eastern Divan Orchestra
Daniel Barenboim, conductor
Royal Albert Hall, 27 July 2012
Giao hưởng số 9 của Beethoven thuộc vào số
ít tác phẩm của nền nghệ thuật thế giới, như những đỉnh núi cao nhất, trội
hơn tất cả những gì mà những thiên tài nghệ thuật của nhân loại tạo nên. Cũng như những bài thơ của Homerk "Thần
khúc" (Divina commedia) của Dante, tranh Đức mẹ của Raphael,
"Faust" của Goethe hoặc khúc Messe (Die hohe Messe) của Bach, giao hưởng số 9, là con đẻ của thời
đại của mình, đồng thời là sự thể hiện những lý tưởng và hoài bão của loài
người. Nhạc sĩ hoàn thành bản giao hưởng vào cuối đời nhưng đã nghiền ngẫm
trong suốt cuộc đời mình. Hồi còn trẻ, say sưa với những tư tưởng của cuộc cách mạng Pháp,
Beethoven tìm tòi thể hiện âm nhạc bài thơ ca ngợi (Ode) "Hướng tới niềm
vui" (Ode to Joy) của Schiller, mà ông đã lấy lời thơ ấy viết màn hợp xướng
chương cuối của giao hưởng số 9. Những tư tưởng về tình hữu ái nhân loại, về
tự do được đưa vào giao hưởng đã thôi thúc ông mãi trên suốt cả con đường
sáng tác. Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề âm nhạc của chương cuối nảy sinh
trước khi có bản giao hưởng, và có thể tìm thấy trong các tác phẩm khác của
Beethoven không ít những hình ảnh tương tự với chủ đề ấy. Nói một cách khác,
giao hưởng số 9 - là sự tổng kết những tìm tòi tư tưởng nghệ thuật của nhạc
sĩ.
Bản giao hưởng được xây dựng trong thời
gian mà thời kỳ cách mạng Pháp đã đi vào dĩ vãng, và thế lực phản động đang
ngự trị ở Châu Âu. Những hy vọng đã đổi thành thất vọng. Trong nghệ thuật đã
nảy sinh một trào lưu mới - chủ nghĩa lãng
mạn, thể hiện những tâm trạng mới. Công trạng của người nghệ sĩ ca
ngợi Trí tuệ, Tự do, Niềm tin trong thời kỳ đen tối ấy ấy càng có ý nghĩa lớn.
Giao hưởng số 9 - một bản tuyên ngôn âm nhạc của thế kỷ 19, như Lenin nói: "tiến hành dưới khẩu
hiệu của cuộc cách mạng Pháp.
Giao hưởng số 9 - tác phẩm cải cách sâu sắc.
Lần đầu tiên lời hát được đưa vào giao hưởng. Thủ pháp táo bạo ấy rất cần thiết
đối với Beethoven. Sự phát triển của tư tưởng của bản giao hưởng đã gợi ý việc
đưa lời hát vào như tiếng nói của nhân loại, tính cụ thể của lời ca cần cho
việc diễn đạt kết luận tư tưởng chủ yếu của quan điểm triết học to lớn. Nhưng
cái đó không hạn chế cái mới của Beethoven. Ông đổi vị trí của Scherzo và
Adagio, viết những đoạn ngoài cùng của chương Scherzo theo hình hình thức sonata
allegro. Thiên tài Beethoven đã đạt đến độ trưởng thành tột bực trong giao hưởng
số 9. Bản giao hưởng gây xúc động mạnh bởi tính bi kịch của những nỗi đau khổ
của nhân loại, cuộc đấu tranh tư tưởng lớn lao, tư tưởng cao cả, nguồn cảm hứng
của chủ nghĩa nhân
văn tổng kết con đường sáng tác của Beethoven - nhà soạn nhạc
giao hưởng. Bản giao hưởng số 9 mở ra những triển vọng mới đối với nền nghệ
thuật âm nhạc của những thế hệ tiếp theo.
Chương
I
Allegro ma non troppo, un poco maestoso.
Thời gian xấp xỉ: 15 phút
Trong màn sương tối lờ mờ, bất định, hiện
ra phần mở đầu của bản giao hưởng. Hồi hộp, đầy bí ẩn của đợi chờ, tiếng vê
(tremolo) chập chờn mờ ảo của violin, trên nền tremolo ấy thấp thoáng những
bóng lờ mờ các motiv, nhạc sĩ đang lần dò những tuyến mạch của chủ đề chính
sau này, nó đã hình thành, và sau một sự chuẩn bị lâu dài, bằng sự nỗ lực
hùng mạnh của dàn nhạc, cuối cùng, khẳng định chủ đề chính. Xuất hiện hình tượng
thuyết nguồn gốc vũ trụ, dường như từ bóng tối của vô biên vũ trụ xuất hiện
và tuyên bố về mình một cách uy quyền, mệnh lệnh: "Tôi đang có ở đây". Nhưng vũ trụ sinh ra xù xì, đầy rẫy
những mâu thuẫn sôi sục, nảy sinh không khí đấu tranh, xung đột. Sự phát triển
sôi động đó dẫn đến chủ đề phụ - phản đề trữ tình đối với chủ đề một, âm nhạc
mang màu sắc trưởng, xuất hiện cao trào anh hùng ca - những tia sáng đầu tiên
của thắng lợi. Và bỗng nhiên trở lại một sự yên lặng hung dữ, những tiếng kèn
hiệu nghiêm trọng thông báo trận chiến đấu bắt đầu, gợi lại trong ký ức những
hình tượng người khổng lồ một mắt trong sử thi anh hùng cổ đại. Ngôn ngữ của
bản giao hưởng bị mất tính chất tạo hình, nhưng thay vào đó là áp lực kịch
tính và thoái trào kiệt sức, trong âm thanh rùng rợn của chủ đề chính, trong
tính nhất quán, nhằm một mục tiêu nhất định của sự phát triển âm nhạc, đã thể
hiện được hình tượng uy nghi, hùng tráng của hành động, của cuộc chiến đấu.
Giai đoạn tột cùng của cuộc chiến đấu trùng hợp với sự bắt đầu phần nhắc lại
(Reprise). Từ lúc ấy sự hoạt động đưa đến không thương xót sự kết thúc bi thảm
trong đoạn đuôi (Coda). Âm nhạc có sắc thái tang lễ trọng thể. Tuy vậy
"ý kiến tối hậu" không thể bác bỏ được vẫn thuộc về chủ đề chính
quyền uy và hùng dũng.
Chương
II
Scherzo: Molto vivace - Presto. Thời gian xấp xỉ: 10
phút.
Phá bỏ tập tục cũ, Beethoven để khúc
Scherzo ngay sau chương I. Nó xóa bỏ yếu tố bi thảm lúc đầu - Scherzo - cảnh
huy hoàng có khí thế và hiệu lực, nó lao nhanh dồn dập như một trận bão lửa,
tạo nên ấn tượng lúc thì mang tính chất anh hùng ca, lúc thì phóng túng, mơ mộng.
Nhưng trong dòng âm thanh như đuổi theo nhau đó khuôn phép nghiêm ngặt về nhịp
điệu vẫn khống chế. Những phần ngoài cùng được viết ở hình thức sonata
allegro (lại một cải tiến mới mẻ nữa) tương phản với phần trio mang tính chất
phong cảnh phong tục, với nhiều màu sắc tươi sáng của đồng quê.
Chương
III
Adagio molto e cantabile
- Andante Moderato - Tempo Primo - Andante Moderato - Adagio - Lo Stesso
Tempo. Thời gian xấp xỉ: 16 phút.
Thể hiện lý tưởng đạo đức, vẻ đẹp và tính
chất hùng vĩ của âm nhạc đầy cảm hứng bởi ý tưởng cao cả về đạo đức và hoàn
thiện, sứ mệnh và nghĩa vụ của con người. Tính chất minh bạch sáng sủa, sự
hài hòa của lý trí và tình cảm bao trùm niềm suy tư triết lý tỉnh táo ấy.
Dòng nhạc thong thả, đầy đặn, sự luân chuyển và bổ sung lẫn nhau của hai chủ
đề và các biến tấu của chúng rất chặt chẽ và hợp lý, hơi thở của giai điệu vô
cùng rộng rãi. Điệu trưởng chiếm ưu thế hầu như khắp nơi trong nền tảng dàn
nhạc đầy chất giai điệu tươi sáng, chỉ có hai lần bị phá vỡ do sự xâm nhập của
chủ đề chính của chương I - như muốn nhắc rằng đạt được sự rõ ràng và cân đối
ấy phải trả bằng một giá đắt.
Chương
IV
Presto; Allegro molto assai (Alla marcia); Andante maestoso;
Allegro energico, sempre ben marcato. Thời
gian xấp xỉ: 24 phút
Chương cuối với phần đầu tràn lên dữ dội,
khôi phục cái lạc điệu tưởng như đã được khắc phục. Nhưng điều đó chỉ là sự cố
gắng để quay về. Nhưng sự trở về đã không thể có được logic phát triển của
"những sự kiện" nhất quyết dẫn đến thắng lợi của niềm vui. Những chủ
đề của những chương trước - những đoạn đường đã bị vượt qua - nối tiếp nhau
đi, nhưng chủ đề nào cũng bị bè cello "cự tuyệt" bằng cách nói
cương quyết: không một chủ đề nào có thể nói là chủ đề của chương cuối.
Cần phải tìm cái nào đó có phẩm chất mới,
hơn hẳn tất cả những gì đã có từ trước đến nay và có thể nói lên kết quả phát
triển tư tưởng âm nhạc của bản giao hưởng. Một khoảnh khắc yên lặng trong dàn
nhạc. Và cuối cùng chủ đề mới ấy xuất hiện, chủ đề Niềm Vui. Chính nhờ tính
chất mộc mạc mà nó được xem như một sự phát triển rõ ràng.
Đầu tiên là cello và contrebass diễn tấu chủ
đề ấy, sau đó từng nhóm nhạc cụ khác và cuối cùng, cả dàn nhạc. Đó là niềm
vui đã vượt qua đau khổ, chiến thắng cái ác, là thành quả của sự hài hòa cân
đối cao độ của nội tâm và sự thoải mái về tinh thần của con người. Âm thanh của
chủ đề đạt đến quy mô to lớn, và một lần nữa, lần cuối cùng, nhạc tố hốt hoảng,
kinh hoàng trong chương I lại chen vào. Và lúc đó, lần đầu tiên nghe thấy tiếng
nói của con người: "Ồ các bạn ơi!
Không phải những âm thanh ấy! Tốt hơn hết chúng ta hãy hát cái gì vui tươi!"
Chủ đề Niềm Vui xuất hiện ở các giọng đơn ca và hợp xướng: "Ôi Niềm Vui thần thánh tuyệt vời,
nữ thần của bầu trời! Lòng hân hoan, chúng tôi bước vào thánh đường của người". Từ lúc đó Niềm Vui vô
tận, không gì làm u tối đi, được giữ mãi cho đến cuối chương. Hơn thế nữa, Niềm
Vui được thể hiện trong tất cả sự phong phú về giới hạn và sắc thái. Chủ đề
thông qua một loạt biến hóa, trở thành khúc ca, bài hát ca ngợi tươi sáng.
sưu tầm
|
Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014
giới...
|
GIỚI, VỠ LÒNG CHO CU DAN
Tran thi NgH
Không biết bắt đầu
hoang mang từ khi nào, sáng sớm mới thức dậy còn nằm trong giường, câu hỏi đầu
tiên của cu Dan 3 tuổi:
- Mẹ là con gái phải
không? Không có zizi, đúng không?
- Đúng. Mẹ không có
zizi, có thứ khác. Nhưng con gái con trai gì sáng ngủ thức dậy vẫn phải đi vệ
sinh thôi. Nín lâu có thể tè trong quần.
Tết này mẹ 40 tuổi nếu
cầm tinh con heo, 39 tuổi con chuột, 38 tuổi con trâu, 37 tuổi con cọp; 36
tính theo song ngư. Rõ ràng âm dương có sai lệch múi giờ, khác nhau về giới
tính, không bình đẳng về chức năng, bất công trong phân loại đẳng cấp, khập
khiễng trong phân bố công việc, và còn nhiều thứ linh tinh chông chênh khác.
Rất nên sẵn sàng
trong mọi tư thế; bất thình lình cu Dan có thể hỏi: ngoài việc để tè, giới
còn để làm gì?
Bên Tây lẫn bên ta hiện
đang rân rộ cái gọi là La théorie du
genre enseignée à l’école, rằng
nên tẩy chay nhà trường vì đã lăm le giáo dục giới tính ở bậc tiểu học. Kênh
France 2 có đưa lên TV một clip thú vị: cô giáo giới thiệu với các em cấp I một
bức tranh cổ điển của vài thế kỷ trước; trong tranh là một mệnh phụ ăn mặc
lùng tùng xòe diêm dúa ngồi cạnh hai bé vận đầm voan xanh, giầy đen vớ trắng,
tóc dài xoắn lọn có thắt nơ. Hai bé được giới thiệu tên Georgette và Paul.
Các em ồ, à: Paul? Paul? Theo lời cô giáo, trước đây người ta cho các bé trai
vận đầm như bé gái, đến 6 tuổi mới phân biệt giới tính. Cô giáo hỏi: các em
muốn ăn mặc như thế nào? Có thích được giống nhau như Georgette và Paul? Những
cánh tay dân chủ giơ lên.
Nhưng phân biệt làm
chi cho mệt trong khi tự thân tiếng Pháp đã rải giới ở mọi thứ? Ngay trên cơ
thể mỗi người đã có cái đầu giống cái gắn trên cái cổ giống đực, trán đực ngó
xuống mũi đực và hai má cái, toàn bộ cửa khẩu gồm môi răng lưỡi họng dun rủi
sao mà tập trung toàn cái cho đến khi trổ xuống gặp cái cằm đực, ngực cái chở
hai trái vú sữa đực áp vào lưng đực phía dưới phình to hai mông cái, cánh tay
đực gãi gãi cẳng chân cái, hai bàn tay cái ngo ngoe mười ngón tay đực. Đại
khái là cơ thể đực tha theo thủ cấp cái; hai thứ này không hiểu sao lại cưu
mang các bộ phận rặt đực núp bên trong: óc đực tim đực gan đực phổi đực bao tử
đực ruột đực.
Mỗi cá nhân lại được
vây quanh bởi các vật dụng quen thuộc trong đời sống hàng ngày: bàn ghế cái
bày biện trong phòng khách đực, giường ngủ đực để cạnh bàn nhỏ cái, dương cầm
đực hòa với tây ban cầm cái trong một bản nhạc đực nhoi nhóc các nốt nhạc cái
đuổi theo một tiết điệu đực, nhà cái đóng hộp trong tường đực trần đực và sàn
đực ngăn ô bằng vách cái thành từng gian đực cái tán loạn. Các căn nhà cái tập
trung trong các khu vực đực, làm nên những thành phố cái trong một đất nước đực
tọa lạc trên một trái đất cái hình thành một thế giới đực.
Trong thế giới này
người ta ăn thịt cái cá đực, uống nước lọc cái nhưng dùng rượu đực, lấy vợ
cái trong một cuộc hôn nhân đực rồi lại ly tan cái; người chết có thể đực hoặc
cái nhưng cái chết thì – cơ khổ, lại đầy nữ tính giống như sự sống, chiến
tranh và hòa bình. Nhưng rồi tình yêu xuất thân từ con tim đực thì luôn luôn
đực để sau đó chuyển giới thành cái, trong sự thù ghét.
Lớn lên một chút, cu
Dan có thể tá hỏa tam tinh khi tìm hiểu về mạo từ trong tiếng Việt. Vì sao
con dao cái búa con sâu cái kiến con trai con gái con người con cháu con chó
con ma con quỷ con buôn, bất chấp đực cái? Vì sao phân biệt thằng nhỏ con nhỏ
thằng khùng con điên thằng cha con mẹ con cu cái bỉm con chim, bất chấp người
vật? Vì sao là hòn bi hòn dái hòn Chồng hòn Khoai hòn non bộ hòn đảo cục gạch
cục nợ cục u cục điều tra liên bang cục R, bất chấp tròn méo? Miếng nước miếng
cơm miếng canh miếng cá miếng thịt, bất chấp lỏng đặc? Nỗi buồn niềm vui nỗi
sợ niềm tự hào nỗi lòng niềm tâm sự, bất chấp lớn nhỏ? Sợi tóc sợi tơ sợi mì
sợi buồn rớt xuống tim tôi, bất chấp dài ngắn? Hột gà hột vịt hột xoàn hột ngọc
hột mưa hột đậu hột gạo – trong số này lắm thứ có thể chuyển thành hạt hoặc
trứng như hạt xoàn hạt ngọc hạt mưa hạt đậu hạt gạo, trứng gà trứng vịt,
nhưng không thể có trứng xoàn trứng ngọc trứng mưa trứng đậu trứng gạo. Tuy
nhiên, nước có thể có trứng được gọi là trứng nước; vậy trứng nước hẳn có
phôi trong đó.
Trước 1975 thanh niên
là từ được dùng cho các chàng trai trẻ, thiếu nữ dành cho các cô gái ở tuổi
thanh xuân. Ngày nay thanh niên bao gồm cả hai giới tính. Tuy nhiên oái oăm
là trong pho Dân Gian Bách Khoa Tự Điển có chàng thanh niên và nàng thiếu nữ,
nhưng lại không có nàng thanh niên! À, có nàng Thanh Niên Xung Phong, còn
nàng thanh niên không xung phong thì không có.
Con tàu hay thằng
tàu? Nó giống đực mà! Bài gì con hay hát đó.
Bateau sur l’eau…
Bateau sur l’eau…
La rivière au bord de l’eau…
Thằng Tàu là thằng
Trung Quốc, á, coi chừng nghe!
Khi mình không ưa ai,
dù nó lớn thù lù vẫn gọi nó bằng thằng, như đã từng có thằng Mỹ thằng Nhật.
Cá nhân có những đại từ biến hóa khôn lường theo quan hệ tình cảm và giới
tính: y, va, hắn, lão ấy, cha ấy, nó, thằng chả, ổng, ảnh, chàng, Người; y thị,
mụ ấy, con mẹ, con mẻ, bả, cổ, chỉ, nàng… Cẩn thận. Chừng nào lòng vỡ rồi
tính.
Con ghẻ có thể đực hoặc
cái nhưng con rể thì đực trong khi con dâu cái. Con đĩ là gái làng chơi nhưng
cái đĩ thì con gái mình, lành mạnh thôi. Đàn ông làm đĩ gọi là đĩ đực, phụ nữ
bán hoa không gọi là đĩ cái – từ này chỉ để chửi dù có bán hoa hay không, có
khi được thay bằng đĩ ngựa tuy không xác định ngựa đực hay ngựa cái. Bán trôn
nuôi miệng chỉ cần nói làm đĩ là hiểu. Có những người thực sự bán hoa nhưng ở
miền Bắc được thi vị hóa là cô hàng hoa, tiến về phía Nam bị cục mịch hóa
thành bà bán bông (chú ý: chăn bông, bông lơn, bông phèng, lông bông,
ma-cà-bông hoàn toàn không dính líu chi đến hoa lá). Buôn bán kiểu này gọi là
làm ăn, không phải làm đĩ dù cả hai ngành nghề đều nhắm vào một mặt hàng:
hoa, và một mục tiêu: sống.
Chửi nhau chó cái là
từ dành riêng cho nữ giới, với nam giới thì mắng thằng chó má, không mắng chó
ba. Nựng nịu con nít gọi chó con ơi chó con ơi, giận lên mắng đồ con chó. Đàn
ông nuôi con được gọi là gà trống nhưng khi đảm trách công việc của đàn bà sẽ
bị phê đồ gà mái. Đực tính là một đặc ân đặc quyền phẩm chất dành cho động vật
lẫn thực vật nhưng khi lớ ngớ cù lần thì bị phang đồ ngỗng đực. Một lần nữa,
chú ý: trống mái được dành cho tôm cá (tùy) và loài có lông vũ; đực cái dùng
cho thực vật, côn trùng (tùy), loài bò sát, loài có vú và có lông mao. Trong
tiếng Pháp chỉ có đực và cái cho cả đồ vật, không có bàn mái bảng trống phấn
mái kẹo trống cà-rem mái.
Học sang bài màu sắc
trong tiếng Việt coi như chết chắc; chỉ có một màu đen thôi mà đã hắc điểu,
ngựa ô, mèo mun, chó mực, gà ác (chú ý: ô kê không phải gà đen). Nhưng khoan,
mới vỡ lòng học ít thôi.
Bây giờ nghe đây, thực
thi chức năng gieo giống là heo nọc, vận dụng nghĩa vụ bầu bì sinh nở là heo
nái. Con dại cái mang, nhớ đấy, con có dại đực nhất định không mang. Thai
nghén đẻ đái là thiên chức của người mẹ nhưng lớ quớ có thể bị chửi đồ chó đẻ.
Thắc mắc tại sao chó đẻ ra người? Ví von thôi, không phải ca tụng sứ mệnh
mang nặng đẻ đau của chó đâu. Bất công vậy bảo sao nhện cái không nhai rào rạo
nhện đực sau cuộc thăng hoa, bảo sao kiến đực không ngủm củ tỏi ngay sau khi
đã tặng cho kiến chúa một gói quà chứa 4 triệu con li ti. Để phát triển dân số,
mười bốn tuổi góa phụ áo đen đã phải đẻ một triệu rưỡi trứng kiến. Một lần
trăng mật cũng đủ lãng quên đời, lặp đi lặp lại các trận mây mưa làm chi cho
phí phạm giờ công lao động. Nói tóm lại, một số loài côn trùng có vẻ làm chủ
tình hình và có ý thức cách mạng về giới tính, tuy vậy những người làm điều
hèn hạ thường bị chì chiết là đồ sâu bọ.
Đấy, đực cái là vậy.
Mới 3 tuổi không nên biết chuyện trăng gió làm chi nhưng có thể giản lược như
sau: đàn ông có nhiều em mắt xanh mỏ đỏ vây quanh sẽ được khen đào hoa, nữ giới
được đàn ông xum xoe liền bị dèm pha đồ cái thứ lẳng lơ chài mồi; đực ngoại
tình vì tìm được tình lớn sau hôn nhân, cái ngoại tình do bản chất đĩ thõa
thích lừa chồng mình giựt chồng người.
- Cu Dan, con là đực.
Nhớ chưa! Thôi đứng dậy đi tè. Đừng quên chùi zizi.
Trần Thị NgH
Saint Maurice, 07. 2014
(trích từ www.damau.org)
|




















