Thứ Bảy, 13 tháng 9, 2014

Anh Hùng Áo Vải Đất Lam Sơn


Lá Số
Vua LÊ LỢI
1385-1433
Tượng Vua Lê Lợi ở Thanh Hóa

     Tổ bốn đời của Lê Lợi là Lê Hối, người Thanh Hóa. Một hôm đến vùng núi Lam Sơn thấy cảnh đất lành chim đậu, ông dời nhà về đây.

    Lê Lợi sinh vào giờ Tý ngày 6 tháng 8 năm Ất Sửu, tức ngày 10 tháng 9 năm 1385 đời nhà Trần tại quê mẹ ở làng Chủ Sơn, huyện Lôi Dương (sau là Thủy Chú, nay là Xuân Thắng, huyện Thọ Xuân, Thanh Hóa). . Bố ông là hào phú Lê Khoáng lấy bà Trịnh Thị Ngọc Thương sinh được ba người con: Lê Học, Lê Trừ và Lê Lợi.

    Lê Lợi vừa lớn lên đã chứng kiến sự sụp đổ của triều Trần, những cuộc khởi nghĩa của nông dân  và những cố gắng cải cách của triều Hồ. Những biến động chính trị-xã hội đó hẳn có ảnh hưởng đến nhận thức, tư tưởng của Lê Lợi, nhưng có lẽ chưa tác động bao nhiêu đến địa vị và chí hướng quân trưởng của miền núi rừng Lam Sơn xa xôi.

    Sau khi bức ép vua Trần dời đô từ Thăng Long vào Tây Đô (Thanh Hóa) và giết hàng loạt quần thần trung thành với nhà Trần, tháng 2 năm Canh Thìn 1400, Hồ Quý Ly truất ngôi của Trần Thiếu Đế, tự lên làm vua lấy quốc hiệu là Đại Ngu, lập nên nhà Hồ.
Triều đình nhà Minh (Trung Quốc), vốn rất muốn xâm lăng Đại Ngu, đã nhân cơ hội Hồ Quý Ly cướp ngôi nhà Trần để đưa quân tràn vào đất Việt năm 1407. Hồ Quý Ly liên tục thất bại và đến tháng 6 năm 1407, thì bị bắt cùng các con trai là Hồ Nguyên Trừng và Hồ Hán Thương. Vương triều Hồ và nước Đại Ngu sụp đổ.

    Nhà Minh thực hiện chính sách xóa bỏ nền Văn minh sông Hồng bằng các cách như đốt, phá và chở về Yên Kinh tất cả các loại sách, văn bia có nói về dân Việt, của dân Việt tạo lập, thiến hoạn đàn ông người Việt, khiến cư dân Việt rất uất ức và căm giận. Hơn 1.000 năm, các triều đình Trung Quốc không đồng hóa được văn hóa Việt, nên việc làm của nhà Minh đã đem lại một kết cục xấu cho sự đô hộ của họ.

Khởi nghĩa Lam Sơn
    Đầu năm Bính Thân (1416) Lê Lợi cùng 18 người bạn thân tín nhất, cùng tâm huyết và chí hướng, trong đó có Nguyễn Trãi, làm lễ thề kết nghĩa anh em, nguyện sống chết “chung sức đồng lòng chống giữ địa phương để trong cõi được ở yên".
Mùa xuân năm Mậu Tuất 1418, Lê Lợi đã cùng những hào kiệt, đồng chí hướng như Nguyễn Trãi, Trần Nguyên Hãn, Lê Văn An, Lê Sát, Lưu Nhân Chú,... tất cả 50 tướng văn và tướng võ chính thức phất cờ khởi nghĩa.  Đồng thời ông tự xưng là Bình Định Vương và kêu gọi dân Việt đồng lòng đứng lên đánh đuổi quân xâm lược Minh cứu nước.

    Trong thời gian đầu, lực lượng của quân Lam Sơn chỉ có vài ngàn người, lương thực thiếu thốn, thường chỉ thắng được vài trận nhỏ và hay bị quân Minh đánh bại. Hoạt động trong thời này chủ yếu ở vùng núi Thanh Hóa. Có những lúc Lê Lợi và quân Lam Sơn phải trốn chạy.
Bị quân Minh vây đánh nhiều trận, quân Lam Sơn khốn đốn ba lần phải rút chạy lên núi Chí Linh những năm 1418, 1419, 1422 và một lần cố thủ ở Sách Khôi năm 1421. Một lần bị quân Minh vây gắt ở núi Chí Linh (có sách ghi năm 1418, có sách ghi năm 1419), quân sĩ hết lương, anh em kết nghĩa của Lê Lợi là Lê Lai theo gương Kỷ Tín (tướng của Hán Cao Tổ Lưu Bang thời chiến tranh Hán-Sở) phải đóng giả làm Lê Lợi, dẫn một toán quân ra ngoài nhử quân Minh. Quân Minh tưởng là bắt được chủ tướng Lam Sơn nên lơ là phòng bị, Lê Lợi và các tướng lĩnh thừa cơ mở đường chạy thoát. Lê Lai bị quân Minh giải về Đông Quan và giết chết.

    Ngoài quân Minh, Lê Lợi và quân Lam Sơn còn phải đối phó với một bộ phận các tù trưởng miền núi tại địa phương theo nhà Minh và quân nước Ai Lao (Lào) bị xúi giục hùa theo. Dù gặp nhiều gian nan, quân Lam Sơn mấy lần đánh bại quân Ai Lao. Tuy nhiên do lực lượng chưa đủ mạnh nên Lê Lợi thường cùng quân Lam Sơn phải ẩn náu trong rừng núi, nhiều lần phải ăn rau củ và măng tre lâu ngày; có lần ông phải giết cả voi và ngay cả con ngựa đang cưỡi của mình để cho tướng sĩ cùng ăn.
Trước tình thế hiểm nghèo, Lê Lợi phải xin giảng hòa với quân Minh năm 1423. Đến năm 1424, khi quân lực và lương thực được củng cố, lại thấy quân Minh bắt giết sứ giả, nên Lê Lợi liền tuyệt giao cắt đứt giảng hoà.

    Vương Thông nghe tin hai đạo viện binh bị đánh tan, sợ hãi xin giảng hòa để rút quân. Lê Lợi đồng ý cho giảng hòa để quân Minh rút về nước. Ông cùng Vương Thông tiến hành làm lễ thề trong thành Đông Quan, hẹn đến tháng chạp âm lịch năm Đinh Mùi (1427) rút quân về.

    Lê Lợi đứng thay Trần Cảo là người đang làm vua trên danh nghĩa, sai sứ dâng biểu cho nhà Minh xin được phong. Vua Minh Tuyên Tông biết Lê Lợi không có ý lập tôn Cảo nhưng vì bị thua mãi nên đồng ý phong cho Trần Cảo làm An Nam quốc vương.

   Tháng chạp, Vương Thông rút quân về nước. Các tướng muốn giết họ để trả thù tội ác đối với người Việt trong suốt thời gian Việt Nam dưới ách đô hộ của triều Minh, Lê Lợi không đồng tình vì muốn giữ hòa khí hai nước, cấp thuyền và ngựa cho quân Minh về.

    Lê Lợi sai Nguyễn Trãi thảo bài Bình Ngô đại cáo để bá cáo cho thiên hạ biết về việc đánh quân Minh. Đây là áng văn chương nổi tiếng, rất có giá trị đời Lê, được coi là bản tuyên ngôn độc lập thứ hai của Việt Nam, sau bài thơ Nam Quốc Sơn Hà.


Trị vì:
    Lê Lợi lên ngôi Hoàng đế năm 1428, tức là vua Lê Thái Tổ, chính thức dựng lên triều Hậu Lê. Ông khôi phục quốc hiệu Đại Việt, đóng đô ở Thăng Long và đổi tên Thăng Long thành Đông Kinh vào năm Thuận Thiên thứ hai (1430).

    Các nhà nghiên cứu thống nhất rằng những sự kiện mà Lê Lợi giết hại các triều thần thân tín, trên thực chất là kết quả của sự thắng thế của phe Lê Sát trong triều đình mà thôi. Hơn nữa, những hành động của vua Thái Tổ để bảo vệ sự thống trị của nhà Lê cũng mang tính hệ thống. Đầu tiên là giết Trần Cảo. Sau đó giết Trần Nguyên Hãn là con cháu nhà Trần. Tất cả những hành động đó đều nhằm khiến thiên hạ hết sự nhớ tiếc nhà Trần. Và Lê Tư Tề cũng là nạn nhân trong đó.

    Vua Lê Thái Tổ ở ngôi được 5 năm thì qua đời vì bạo bệnh vào ngày 22 tháng 8 nhuận âm lịch năm 1433 Quý Sửu, hưởng dương 49 tuổi. Vì nhớ công Lê Lai chết thay cho mình ở núi Chí Linh trước kia, ông dặn lại đời sau phải giỗ Lê Lai trước khi giỗ ông một ngày. Bởi thế đời sau truyền lại câu: "Hăm mốt Lê Lai, hăm hai Lê Lợi". Thật ra việc này có nhiều bí ẩn.

    Lê Thái Tổ được an táng tại Vĩnh Lăng, Lam Sơn. Thái tử Lê Nguyên Long 11 tuổi lên nối ngôi, tức là vua Lê Thái Tông.
   
    Sau thời kỳ độc lập hơn 400 năm kể từ thế kỷ 10, Đại Việt có nguy cơ trở lại thành quận huyện của Trung Hoa. Cuộc khởi nghĩa Lam Sơn của Lê Lợi đã chấm dứt 20 năm cai trị của nhà Minh tại Đại Việt và chấm dứt hẳn sự đô hộ của Trung Quốc thời phong kiến. Bởi công lao to lớn đó của ông nên đời sau còn nhớ, dù nhà Lê khi bị nhà Mạc cướp ngôi vẫn là một nguyên nhân khiến nhà Lê có thể trung hưng (1533). Thậm chí ngay cả khi con cháu triều Lê không còn nắm được thực quyền thì trên danh nghĩa vẫn là người đứng đầu thiên hạ. Chúa Trịnh  sau này làm phụ chính nhiều đời nhưng vẫn không dám cướp ngôi nhà Lê cũng bởi sợ dư luận còn nhớ công lao giành lại độc lập cho đất nước của nhà Lê.

    Về cai trị, ông cũng là người thiết lập lại trật tự, quy củ của chế độ phong kiến các triều đại Lý, Trần trước đây mà các thế hệ vua sau tiếp tục củng cố, phát triển cao hơn nữa.

    Đến cuối đời, rất tiếc,  ông đã có những quyết định sai lầm dẫn đến cái chết của những trung thần như Trần Nguyên Hãn, Phạm Văn Xảo. Từ trước đó, khi về trí sĩ, Trần Nguyên Hãn đã nói riêng với người thân cận:  Nhà vua có tướng như Việt vương Câu Tiễn, cho nên, ta không thể yên hưởng vui sướng được. (Việt vương Câu Tiễn có tướng cổ dài, mép quạ, tức là tướng chim ưng. Có thuyết cho rằng Trần Nguyên Hãn trực tiếp nói câu này với Nguyễn Trãi.)

    Tuy nhiên, xét về tổng thể Lê Lợi vẫn là một vị vua tài năng, có công lớn trong việc đánh đuổi quân Minh, giành lại độc lập cho dân tộc Việt Nam.
                                                                                                           
    (Tổng hợp theo Wikipedia)


 Bia Vĩnh Lăng

  
LÁ SỐ TỬ VI:

   Đây là lá số mẫu mực cho bộ Phi Phượng Hổ tại Mệnh.

  -Lê Lợi Mệnh THÂN đồng cung VCD tại Dậu có Cự Cơ xung, nói cách khác nội Âm Dương Lương, ngoại Cự Cơ Đồng khá phức tạp nên suốt đời cũng không mấy yên thân. Con nhà hào phú giàu có nhờ song Lộc chiếu Mệnh THÂN.  Cự Kị chí hướng khác thường, phi thường nhờ thêm Phi Phượng Quyền.
     Dù có Hóa Kị nhưng đi với Tứ Linh lại hay, gia thêm Quyền thành cách Quyền Khốc Phượng Kị uy danh phi thường kì lạ, bộ Thanh Phi Phục hợp với Cơ Lương là lương dân hiền hòa nhưng có Cự Binh nên phải khởi binh, vì thế mới gọi là anh hùng áo vải. Cái xấu nơi đây chính là Cơ Tang Hổ Hỏa tại THÂN thì dù là con Hổ uy thế gầm vang cũng khó mà tránh khỏi cái THÂN yểu thọ. Nhờ bộ Thanh Phượng Tuế  ngài ghi danh lịch sử và mãi được tôn thờ.
    Thêm nữa, từ Phụ Tử Nô thấy Lưu Quả Tấu Hồng Ân Xương Cáo là khắc ghi những lời ca ngợi ân đức và công lao (Đà Lực) của ngài, thực tế chính Nguyễn Trải đã soạn và cho khắc lên bia Vĩnh Lăng sau khi ngài mất 2 tháng. Ta thấy Tử Vi hay kì lạ thật!.

  -Đại vận 32-41, Thất Sát Đào Hoa chọn lựa chiếm đoạt, nói hay một tí là tạo ra cuộc chiến, dù vậy với Triệt Đà gian khổ và thất bại không phải là ít, phải đến 10 năm sau (1428) vào vận Lương Quyền Phục mới đem yên bình trở lại. Khởi nghĩa, Cự Binh nhưng qua tiểu vận Thiên Tướng (năm Mậu Tuất 1418) mới là khởi nghĩa thật sự, nhờ Tử Vi quyết định hành động, gia thêm Kình Hình Linh mạnh mẽ hơn khi được Khôi Việt xúc tác cho Mệnh Cự Cơ có cơ hội hành động chống phá. Phá dữ dội vì có Phá Quân gặp Đại Hao rống lên tiếng “Sát”. Cũng là vận Sát Đào này nhưng nếu có Diêu Hư thì chỉ biết sát gái thôi.

   -Về việc sát hại công thần, Mệnh VCD chi phối quá mạnh từ Di cung “Cát xứ tàng hung” Cự Tồn Kị và bọn Tả Hữu KK gây thị phi, nên Lê Lợi đã làm điều sai trái Phi Liêm. Ở đây còn tiềm ẩn cách Kình Đà hiệp Kị cho nên ngài cũng rất khổ tâm khi phải làm điều đó, hơn nữa Kị tạo nên sự đa nghi quá mạnh cho VCD, nhất là Cự Môn có tính lo sợ . Sự lo lắng cho ngôi báu của con cùng với sự dèm pha, xúi bẩy của bọn xu nịnh đã đưa Lê Lợi đến hành động sát hại hai công thần và cũng là hai người bạn chiến đấu đã từng vào sinh ra tử hồi hồi bình Ngô là Trần Nguyên Hãn và Phạm Văn Xảo.(theo Danh nhân Hà Nội).

   -Năm Quý Sửu 1433, dù là đại vận (42-51) có Âm Lương may mắn, nhưng bị Không Kiếp xung cũng đã làm thay đổi lương tâm con người mang ngôi sao vốn dễ lo âu bất mãn và Kị hội chiếu thêm Lưu Việt phát nạn, tiểu hạn tại Phối có Bệnh Phù Hư Hỏa Kiếp, với Cơ Tang lại gia Lưu Tang bất lợi thêm Lưu Đà Hư, Kị lại gặp Triệt và Lưu Triệt xung. Ngài mất vì bệnh hiểm nghèo. Để lại nỗi buồn đau cho đất nước Ấn Tang Kiếp.

     Tật Ách cung Việt Linh Hình, lại có Khoa nếu ở thời nay có thể sống nhờ phẩu thuật.


  



Thứ Sáu, 25 tháng 7, 2014

giao hưởng số 9


 
   

BEETHOVEN VÀ BẢN GIAO HƯỞNG SỐ 9


Hoàn cảnh sáng tác

Hiệp hội London (The Society of London - sau này là Royal Philharmonic Society) đặt hàng bản giao hưởng vào năm 1817. Beethoven bắt đầu làm việc với bản giao hưởng cuối cùng vào năm 1818 và kết thúc vào đầu năm 1824. Khoảng 10 năm sau bản giao hưởng số 8. Tuy nhiên, Beethoven bắt đầu sáng tác tác phẩm này sớm hớn. Ông đã muốn đặt An die Freude vào nhạc rất sớm từ năm 1793. Ông đã làm điều đó, nhưng thật không may tác phẩm này bị mất vĩnh viễn. Từ chủ đề cho chương scherzo có thể lần ngược về bản fugue được viết vào năm 1815.

Đoạn mở đầu cho phần thanh nhạc của bản giao hưởng gây ra rất nhiều khó khăn cho Beethoven. Bạn ông, Anton Schindler, sau này kể lại: "Khi anh ấy bắt đầu sáng tác chương 4, sự nỗ lực bắt đầu như chưa bao giờ có. Mục đích là tìm ra cách đi vào phần mở đầu của đoạn tụng ca của Schiller. Một hôm Beethoven nhảy vào phòng và la lớn "Tôi tìm ra rồi, tìm ra rồi" Sau đó anh ấy cho tôi xem phác thảo của những từ "cho chúng tôi hát bản tụng ca của Schiller bất tử". Tuy nhiên, đoạn mở đầu đó đã không có trong sản phẩm cuối cùng, và Beethoven đã trải qua rất nhiều thời gian viết lại phần đó cho đến khi nó thành hình dáng như chúng ta thấy ngày hôm nay

National Youth Choir of Great Britain

West-Eastern Divan Orchestra
Daniel Barenboim, conductor
Royal Albert Hall, 27 July 2012

       Giao hưởng số 9 của Beethoven thuộc vào số ít tác phẩm của nền nghệ thuật thế giới, như những đỉnh núi cao nhất, trội hơn tất cả những gì mà những thiên tài nghệ thuật của nhân loại tạo nên.  Cũng như những bài thơ của Homerk "Thần khúc" (Divina commedia) của Dante, tranh Đức mẹ của Raphael, "Faust" của Goethe hoặc khúc Messe (Die hohe Messe) của Bach, giao hưởng số 9, là con đẻ của thời đại của mình, đồng thời là sự thể hiện những lý tưởng và hoài bão của loài người. Nhạc sĩ hoàn thành bản giao hưởng vào cuối đời nhưng đã nghiền ngẫm trong suốt cuộc đời mình. Hồi còn trẻ, say sưa với những tư tưởng của cuộc cách mạng Pháp, Beethoven tìm tòi thể hiện âm nhạc bài thơ ca ngợi (Ode) "Hướng tới niềm vui" (Ode to Joy) của Schiller, mà ông đã lấy lời thơ ấy viết màn hợp xướng chương cuối của giao hưởng số 9. Những tư tưởng về tình hữu ái nhân loại, về tự do được đưa vào giao hưởng đã thôi thúc ông mãi trên suốt cả con đường sáng tác. Không phải ngẫu nhiên mà chủ đề âm nhạc của chương cuối nảy sinh trước khi có bản giao hưởng, và có thể tìm thấy trong các tác phẩm khác của Beethoven không ít những hình ảnh tương tự với chủ đề ấy. Nói một cách khác, giao hưởng số 9 - là sự tổng kết những tìm tòi tư tưởng nghệ thuật của nhạc sĩ.

    Bản giao hưởng được xây dựng trong thời gian mà thời kỳ cách mạng Pháp đã đi vào dĩ vãng, và thế lực phản động đang ngự trị ở Châu Âu. Những hy vọng đã đổi thành thất vọng. Trong nghệ thuật đã nảy sinh một trào lưu mới - chủ nghĩa lãng mạn, thể hiện những tâm trạng mới. Công trạng của người nghệ sĩ ca ngợi Trí tuệ, Tự do, Niềm tin trong thời kỳ đen tối ấy ấy càng có ý nghĩa lớn. Giao hưởng số 9 - một bản tuyên ngôn âm nhạc của thế kỷ 19, như Lenin nói: "tiến hành dưới khẩu hiệu của cuộc cách mạng Pháp.

    Giao hưởng số 9 - tác phẩm cải cách sâu sắc. Lần đầu tiên lời hát được đưa vào giao hưởng. Thủ pháp táo bạo ấy rất cần thiết đối với Beethoven. Sự phát triển của tư tưởng của bản giao hưởng đã gợi ý việc đưa lời hát vào như tiếng nói của nhân loại, tính cụ thể của lời ca cần cho việc diễn đạt kết luận tư tưởng chủ yếu của quan điểm triết học to lớn. Nhưng cái đó không hạn chế cái mới của Beethoven. Ông đổi vị trí của Scherzo và Adagio, viết những đoạn ngoài cùng của chương Scherzo theo hình hình thức sonata allegro. Thiên tài Beethoven đã đạt đến độ trưởng thành tột bực trong giao hưởng số 9. Bản giao hưởng gây xúc động mạnh bởi tính bi kịch của những nỗi đau khổ của nhân loại, cuộc đấu tranh tư tưởng lớn lao, tư tưởng cao cả, nguồn cảm hứng của chủ nghĩa nhân văn tổng kết con đường sáng tác của Beethoven - nhà soạn nhạc giao hưởng. Bản giao hưởng số 9 mở ra những triển vọng mới đối với nền nghệ thuật âm nhạc của những thế hệ tiếp theo.

 Chương I
Allegro ma non troppo, un poco maestoso. Thời gian xấp xỉ: 15 phút

Trong màn sương tối lờ mờ, bất định, hiện ra phần mở đầu của bản giao hưởng. Hồi hộp, đầy bí ẩn của đợi chờ, tiếng vê (tremolo) chập chờn mờ ảo của violin, trên nền tremolo ấy thấp thoáng những bóng lờ mờ các motiv, nhạc sĩ đang lần dò những tuyến mạch của chủ đề chính sau này, nó đã hình thành, và sau một sự chuẩn bị lâu dài, bằng sự nỗ lực hùng mạnh của dàn nhạc, cuối cùng, khẳng định chủ đề chính. Xuất hiện hình tượng thuyết nguồn gốc vũ trụ, dường như từ bóng tối của vô biên vũ trụ xuất hiện và tuyên bố về mình một cách uy quyền, mệnh lệnh: "Tôi đang có ở đây". Nhưng vũ trụ sinh ra xù xì, đầy rẫy những mâu thuẫn sôi sục, nảy sinh không khí đấu tranh, xung đột. Sự phát triển sôi động đó dẫn đến chủ đề phụ - phản đề trữ tình đối với chủ đề một, âm nhạc mang màu sắc trưởng, xuất hiện cao trào anh hùng ca - những tia sáng đầu tiên của thắng lợi. Và bỗng nhiên trở lại một sự yên lặng hung dữ, những tiếng kèn hiệu nghiêm trọng thông báo trận chiến đấu bắt đầu, gợi lại trong ký ức những hình tượng người khổng lồ một mắt trong sử thi anh hùng cổ đại. Ngôn ngữ của bản giao hưởng bị mất tính chất tạo hình, nhưng thay vào đó là áp lực kịch tính và thoái trào kiệt sức, trong âm thanh rùng rợn của chủ đề chính, trong tính nhất quán, nhằm một mục tiêu nhất định của sự phát triển âm nhạc, đã thể hiện được hình tượng uy nghi, hùng tráng của hành động, của cuộc chiến đấu. Giai đoạn tột cùng của cuộc chiến đấu trùng hợp với sự bắt đầu phần nhắc lại (Reprise). Từ lúc ấy sự hoạt động đưa đến không thương xót sự kết thúc bi thảm trong đoạn đuôi (Coda). Âm nhạc có sắc thái tang lễ trọng thể. Tuy vậy "ý kiến tối hậu" không thể bác bỏ được vẫn thuộc về chủ đề chính quyền uy và hùng dũng.


Chương II
Scherzo: Molto vivace - Presto. Thời gian xấp xỉ: 10 phút.

Phá bỏ tập tục cũ, Beethoven để khúc Scherzo ngay sau chương I. Nó xóa bỏ yếu tố bi thảm lúc đầu - Scherzo - cảnh huy hoàng có khí thế và hiệu lực, nó lao nhanh dồn dập như một trận bão lửa, tạo nên ấn tượng lúc thì mang tính chất anh hùng ca, lúc thì phóng túng, mơ mộng. Nhưng trong dòng âm thanh như đuổi theo nhau đó khuôn phép nghiêm ngặt về nhịp điệu vẫn khống chế. Những phần ngoài cùng được viết ở hình thức sonata allegro (lại một cải tiến mới mẻ nữa) tương phản với phần trio mang tính chất phong cảnh phong tục, với nhiều màu sắc tươi sáng của đồng quê.


Chương III
Adagio molto e cantabile - Andante Moderato - Tempo Primo - Andante Moderato - Adagio - Lo Stesso Tempo. Thời gian xấp xỉ: 16 phút.

Thể hiện lý tưởng đạo đức, vẻ đẹp và tính chất hùng vĩ của âm nhạc đầy cảm hứng bởi ý tưởng cao cả về đạo đức và hoàn thiện, sứ mệnh và nghĩa vụ của con người. Tính chất minh bạch sáng sủa, sự hài hòa của lý trí và tình cảm bao trùm niềm suy tư triết lý tỉnh táo ấy. Dòng nhạc thong thả, đầy đặn, sự luân chuyển và bổ sung lẫn nhau của hai chủ đề và các biến tấu của chúng rất chặt chẽ và hợp lý, hơi thở của giai điệu vô cùng rộng rãi. Điệu trưởng chiếm ưu thế hầu như khắp nơi trong nền tảng dàn nhạc đầy chất giai điệu tươi sáng, chỉ có hai lần bị phá vỡ do sự xâm nhập của chủ đề chính của chương I - như muốn nhắc rằng đạt được sự rõ ràng và cân đối ấy phải trả bằng một giá đắt.



Chương IV
Presto; Allegro molto assai (Alla marcia); Andante maestoso; Allegro energico, sempre ben marcato. Thời gian xấp xỉ: 24 phút

Chương cuối với phần đầu tràn lên dữ dội, khôi phục cái lạc điệu tưởng như đã được khắc phục. Nhưng điều đó chỉ là sự cố gắng để quay về. Nhưng sự trở về đã không thể có được logic phát triển của "những sự kiện" nhất quyết dẫn đến thắng lợi của niềm vui. Những chủ đề của những chương trước - những đoạn đường đã bị vượt qua - nối tiếp nhau đi, nhưng chủ đề nào cũng bị bè cello "cự tuyệt" bằng cách nói cương quyết: không một chủ đề nào có thể nói là chủ đề của chương cuối.

   Cần phải tìm cái nào đó có phẩm chất mới, hơn hẳn tất cả những gì đã có từ trước đến nay và có thể nói lên kết quả phát triển tư tưởng âm nhạc của bản giao hưởng. Một khoảnh khắc yên lặng trong dàn nhạc. Và cuối cùng chủ đề mới ấy xuất hiện, chủ đề Niềm Vui. Chính nhờ tính chất mộc mạc mà nó được xem như một sự phát triển rõ ràng.

   Đầu tiên là cello và contrebass diễn tấu chủ đề ấy, sau đó từng nhóm nhạc cụ khác và cuối cùng, cả dàn nhạc. Đó là niềm vui đã vượt qua đau khổ, chiến thắng cái ác, là thành quả của sự hài hòa cân đối cao độ của nội tâm và sự thoải mái về tinh thần của con người. Âm thanh của chủ đề đạt đến quy mô to lớn, và một lần nữa, lần cuối cùng, nhạc tố hốt hoảng, kinh hoàng trong chương I lại chen vào. Và lúc đó, lần đầu tiên nghe thấy tiếng nói của con người: "Ồ các bạn ơi! Không phải những âm thanh ấy! Tốt hơn hết chúng ta hãy hát cái gì vui tươi!" Chủ đề Niềm Vui xuất hiện ở các giọng đơn ca và hợp xướng: "Ôi Niềm Vui thần thánh tuyệt vời, nữ thần của bầu trời! Lòng hân hoan, chúng tôi bước vào thánh đường của người". Từ lúc đó Niềm Vui vô tận, không gì làm u tối đi, được giữ mãi cho đến cuối chương. Hơn thế nữa, Niềm Vui được thể hiện trong tất cả sự phong phú về giới hạn và sắc thái. Chủ đề thông qua một loạt biến hóa, trở thành khúc ca, bài hát ca ngợi tươi sáng.

sưu tầm





Chủ Nhật, 20 tháng 7, 2014

giới...



GIỚI, VỠ LÒNG CHO CU DAN
 Tran thi NgH



Không biết bắt đầu hoang mang từ khi nào, sáng sớm mới thức dậy còn nằm trong giường, câu hỏi đầu tiên của cu Dan 3 tuổi:

- Mẹ là con gái phải không? Không có zizi, đúng không?

- Đúng. Mẹ không có zizi, có thứ khác. Nhưng con gái con trai gì sáng ngủ thức dậy vẫn phải đi vệ sinh thôi. Nín lâu có thể tè trong quần.

Tết này mẹ 40 tuổi nếu cầm tinh con heo, 39 tuổi con chuột, 38 tuổi con trâu, 37 tuổi con cọp; 36 tính theo song ngư. Rõ ràng âm dương có sai lệch múi giờ, khác nhau về giới tính, không bình đẳng về chức năng, bất công trong phân loại đẳng cấp, khập khiễng trong phân bố công việc, và còn nhiều thứ linh tinh chông chênh khác.

Rất nên sẵn sàng trong mọi tư thế; bất thình lình cu Dan có thể hỏi: ngoài việc để tè, giới còn để làm gì?

Bên Tây lẫn bên ta hiện đang rân rộ cái gọi là La théorie du genre enseignée à l’école, rằng nên tẩy chay nhà trường vì đã lăm le giáo dục giới tính ở bậc tiểu học. Kênh France 2 có đưa lên TV một clip thú vị: cô giáo giới thiệu với các em cấp I một bức tranh cổ điển của vài thế kỷ trước; trong tranh là một mệnh phụ ăn mặc lùng tùng xòe diêm dúa ngồi cạnh hai bé vận đầm voan xanh, giầy đen vớ trắng, tóc dài xoắn lọn có thắt nơ. Hai bé được giới thiệu tên Georgette và Paul. Các em ồ, à: Paul? Paul? Theo lời cô giáo, trước đây người ta cho các bé trai vận đầm như bé gái, đến 6 tuổi mới phân biệt giới tính. Cô giáo hỏi: các em muốn ăn mặc như thế nào? Có thích được giống nhau như Georgette và Paul? Những cánh tay dân chủ giơ lên.

Nhưng phân biệt làm chi cho mệt trong khi tự thân tiếng Pháp đã rải giới ở mọi thứ? Ngay trên cơ thể mỗi người đã có cái đầu giống cái gắn trên cái cổ giống đực, trán đực ngó xuống mũi đực và hai má cái, toàn bộ cửa khẩu gồm môi răng lưỡi họng dun rủi sao mà tập trung toàn cái cho đến khi trổ xuống gặp cái cằm đực, ngực cái chở hai trái vú sữa đực áp vào lưng đực phía dưới phình to hai mông cái, cánh tay đực gãi gãi cẳng chân cái, hai bàn tay cái ngo ngoe mười ngón tay đực. Đại khái là cơ thể đực tha theo thủ cấp cái; hai thứ này không hiểu sao lại cưu mang các bộ phận rặt đực núp bên trong: óc đực tim đực gan đực phổi đực bao tử đực ruột đực.

Mỗi cá nhân lại được vây quanh bởi các vật dụng quen thuộc trong đời sống hàng ngày: bàn ghế cái bày biện trong phòng khách đực, giường ngủ đực để cạnh bàn nhỏ cái, dương cầm đực hòa với tây ban cầm cái trong một bản nhạc đực nhoi nhóc các nốt nhạc cái đuổi theo một tiết điệu đực, nhà cái đóng hộp trong tường đực trần đực và sàn đực ngăn ô bằng vách cái thành từng gian đực cái tán loạn. Các căn nhà cái tập trung trong các khu vực đực, làm nên những thành phố cái trong một đất nước đực tọa lạc trên một trái đất cái hình thành một thế giới đực.

Trong thế giới này người ta ăn thịt cái cá đực, uống nước lọc cái nhưng dùng rượu đực, lấy vợ cái trong một cuộc hôn nhân đực rồi lại ly tan cái; người chết có thể đực hoặc cái nhưng cái chết thì – cơ khổ, lại đầy nữ tính giống như sự sống, chiến tranh và hòa bình. Nhưng rồi tình yêu xuất thân từ con tim đực thì luôn luôn đực để sau đó chuyển giới thành cái, trong sự thù ghét.

Lớn lên một chút, cu Dan có thể tá hỏa tam tinh khi tìm hiểu về mạo từ trong tiếng Việt. Vì sao con dao cái búa con sâu cái kiến con trai con gái con người con cháu con chó con ma con quỷ con buôn, bất chấp đực cái? Vì sao phân biệt thằng nhỏ con nhỏ thằng khùng con điên thằng cha con mẹ con cu cái bỉm con chim, bất chấp người vật? Vì sao là hòn bi hòn dái hòn Chồng hòn Khoai hòn non bộ hòn đảo cục gạch cục nợ cục u cục điều tra liên bang cục R, bất chấp tròn méo? Miếng nước miếng cơm miếng canh miếng cá miếng thịt, bất chấp lỏng đặc? Nỗi buồn niềm vui nỗi sợ niềm tự hào nỗi lòng niềm tâm sự, bất chấp lớn nhỏ? Sợi tóc sợi tơ sợi mì sợi buồn rớt xuống tim tôi, bất chấp dài ngắn? Hột gà hột vịt hột xoàn hột ngọc hột mưa hột đậu hột gạo – trong số này lắm thứ có thể chuyển thành hạt hoặc trứng như hạt xoàn hạt ngọc hạt mưa hạt đậu hạt gạo, trứng gà trứng vịt, nhưng không thể có trứng xoàn trứng ngọc trứng mưa trứng đậu trứng gạo. Tuy nhiên, nước có thể có trứng được gọi là trứng nước; vậy trứng nước hẳn có phôi trong đó.

Trước 1975 thanh niên là từ được dùng cho các chàng trai trẻ, thiếu nữ dành cho các cô gái ở tuổi thanh xuân. Ngày nay thanh niên bao gồm cả hai giới tính. Tuy nhiên oái oăm là trong pho Dân Gian Bách Khoa Tự Điển có chàng thanh niên và nàng thiếu nữ, nhưng lại không có nàng thanh niên! À, có nàng Thanh Niên Xung Phong, còn nàng thanh niên không xung phong thì không có.

Con tàu hay thằng tàu? Nó giống đực mà! Bài gì con hay hát đó.
Bateau sur l’eau…
Bateau sur l’eau…
La rivière au bord de l’eau…

Thằng Tàu là thằng Trung Quốc, á, coi chừng nghe!

Khi mình không ưa ai, dù nó lớn thù lù vẫn gọi nó bằng thằng, như đã từng có thằng Mỹ thằng Nhật. Cá nhân có những đại từ biến hóa khôn lường theo quan hệ tình cảm và giới tính: y, va, hắn, lão ấy, cha ấy, nó, thằng chả, ổng, ảnh, chàng, Người; y thị, mụ ấy, con mẹ, con mẻ, bả, cổ, chỉ, nàng… Cẩn thận. Chừng nào lòng vỡ rồi tính.

Con ghẻ có thể đực hoặc cái nhưng con rể thì đực trong khi con dâu cái. Con đĩ là gái làng chơi nhưng cái đĩ thì con gái mình, lành mạnh thôi. Đàn ông làm đĩ gọi là đĩ đực, phụ nữ bán hoa không gọi là đĩ cái – từ này chỉ để chửi dù có bán hoa hay không, có khi được thay bằng đĩ ngựa tuy không xác định ngựa đực hay ngựa cái. Bán trôn nuôi miệng chỉ cần nói làm đĩ là hiểu. Có những người thực sự bán hoa nhưng ở miền Bắc được thi vị hóa là cô hàng hoa, tiến về phía Nam bị cục mịch hóa thành bà bán bông (chú ý: chăn bông, bông lơn, bông phèng, lông bông, ma-cà-bông hoàn toàn không dính líu chi đến hoa lá). Buôn bán kiểu này gọi là làm ăn, không phải làm đĩ dù cả hai ngành nghề đều nhắm vào một mặt hàng: hoa, và một mục tiêu: sống.

Chửi nhau chó cái là từ dành riêng cho nữ giới, với nam giới thì mắng thằng chó má, không mắng chó ba. Nựng nịu con nít gọi chó con ơi chó con ơi, giận lên mắng đồ con chó. Đàn ông nuôi con được gọi là gà trống nhưng khi đảm trách công việc của đàn bà sẽ bị phê đồ gà mái. Đực tính là một đặc ân đặc quyền phẩm chất dành cho động vật lẫn thực vật nhưng khi lớ ngớ cù lần thì bị phang đồ ngỗng đực. Một lần nữa, chú ý: trống mái được dành cho tôm cá (tùy) và loài có lông vũ; đực cái dùng cho thực vật, côn trùng (tùy), loài bò sát, loài có vú và có lông mao. Trong tiếng Pháp chỉ có đực và cái cho cả đồ vật, không có bàn mái bảng trống phấn mái kẹo trống cà-rem mái.

Học sang bài màu sắc trong tiếng Việt coi như chết chắc; chỉ có một màu đen thôi mà đã hắc điểu, ngựa ô, mèo mun, chó mực, gà ác (chú ý: ô kê không phải gà đen). Nhưng khoan, mới vỡ lòng học ít thôi.

Bây giờ nghe đây, thực thi chức năng gieo giống là heo nọc, vận dụng nghĩa vụ bầu bì sinh nở là heo nái. Con dại cái mang, nhớ đấy, con có dại đực nhất định không mang. Thai nghén đẻ đái là thiên chức của người mẹ nhưng lớ quớ có thể bị chửi đồ chó đẻ. Thắc mắc tại sao chó đẻ ra người? Ví von thôi, không phải ca tụng sứ mệnh mang nặng đẻ đau của chó đâu. Bất công vậy bảo sao nhện cái không nhai rào rạo nhện đực sau cuộc thăng hoa, bảo sao kiến đực không ngủm củ tỏi ngay sau khi đã tặng cho kiến chúa một gói quà chứa 4 triệu con li ti. Để phát triển dân số, mười bốn tuổi góa phụ áo đen đã phải đẻ một triệu rưỡi trứng kiến. Một lần trăng mật cũng đủ lãng quên đời, lặp đi lặp lại các trận mây mưa làm chi cho phí phạm giờ công lao động. Nói tóm lại, một số loài côn trùng có vẻ làm chủ tình hình và có ý thức cách mạng về giới tính, tuy vậy những người làm điều hèn hạ thường bị chì chiết là đồ sâu bọ.

Đấy, đực cái là vậy. Mới 3 tuổi không nên biết chuyện trăng gió làm chi nhưng có thể giản lược như sau: đàn ông có nhiều em mắt xanh mỏ đỏ vây quanh sẽ được khen đào hoa, nữ giới được đàn ông xum xoe liền bị dèm pha đồ cái thứ lẳng lơ chài mồi; đực ngoại tình vì tìm được tình lớn sau hôn nhân, cái ngoại tình do bản chất đĩ thõa thích lừa chồng mình giựt chồng người.

- Cu Dan, con là đực. Nhớ chưa! Thôi đứng dậy đi tè. Đừng quên chùi zizi.

 Trần Thị NgH
Saint Maurice, 07. 2014
 (trích từ www.damau.org)





Thứ Ba, 17 tháng 6, 2014

CẤU TRÚC của lá số TỬ VI.






Đây là những điều vô cùng căn bản nhưng không hiểu những điều căn bản này, bạn dễ gặp khó khăn khi nghiên cứu 1 lá số. Khi đã hiểu những điều này rồi bạn cần tìm cái gì để từ đó đưa ra lời quyết đoán.

Lá số TỬ VI được xây dựng từ các bộ sao Can Chi làm nền như cấu trúc 1 ngôi nhà, ví von như thế để dễ hiểu. Cũng như bạn xây dựng 1 ngôi nhà với mục đích gì, để ở, để buôn bán, để làm trường học… Bộ Can Chi làm cơ bản, các sao còn lại là chính tinh được kể như là mục đích. Các sao còn lại khác ngoài chính tinh ra được xem như vật trang trí, trang thiết bị  cho ngôi nhà.

Bộ sao hàng Chi gồm các bộ:
1. TUẾ HỔ PHÙ.
2. TANG HƯ KHÁCH hỗ trợ cho nhóm này là THIÊN MÃ .
Giữa 2 bộ trên có sự hỗ trợ của bộ PHƯỢNG KHỐC CÁI. Bộ sao này chỉ hỗ trợ cho bộ số 1 hoặc số 2. Đi với nhóm nào ủng hộ nhóm đó.
3.  ĐÀO HỒNG HỈ bộ này luôn luôn có KIẾP SÁT THIÊN ĐỨC, NGUYỆT ĐỨC hội họp .
4.  CÔ QUẢ. Bộ CÔ QUẢ giao hội với các bộ số 2 và 3, không giao hội với bộ TUẾ HỔ PHÙ . 
Tô điểm cho bộ này còn có 1 số sao như PHÁ TOÁI chiếm cứ 3 cung Tị Dậu Sửu. La Võng chiếm cứ 2 cung Thìn Tuất gây tác động các cung tam hợp với nó.

Cơ bản các vị trí các sao hàng Chi đã có vị trí xấu và tốt.

Các sao hàng Chi mô tả tính cách, trạng thái và 1 phần công việc của mình.
Bộ sao hàng Can gồm nhiều bộ phức tạp. Nó phối hợp giữa 2 chòm LỘC TỒN (gồm LỘC TỒN KÌNH ĐÀ, QUỐC ẤN, ĐƯỜNG PHÙ ) và chòm BÁC SĨ (12 sao).
A.      TỒN TƯỚNG PHÙ hỗ trợ cho bộ này còn có QUỐC ẤN.
B.      THANH PHI PHỤC. Luôn luôn xung với bộ A.
C.      LỰC TẤU ĐẠI.
D.      HỈ PHỦ TIỂU. Luôn luôn xung với bộ C.
E.      ĐƯỜNG PHÙ, KÌNH ĐÀ luôn luôn giao hội với 2 trong 2 bộ C, D.
F.      Ngoài ra còn có bộ TUẦN TRIỆT LƯU HÀ KHÔI VIỆT  giao hội với các bộ vừa kể.

Các sao hàng Can thiên về mô tả công việc, tình cảm.

Hai nhóm sao hàng Chi và hàng Can phối hợp với nhau cho ta 720 bộ Can Chi khác nhau. Ví von dễ hiểu ta có 720 vị trí xây dựng căn nhà. Vị trí đó có thể hợp với chính này bất hợp với chính tinh khác. Ví dụ cái chợ lại để nơi xa vắng là bất hợp lý.

Ngoài Can Chi 2 chòm TỬ VI 6 sao và THIÊN PHỦ 8 sao, tạo ra 72 đại cách khác nhau. Dễ hiểu là mục đích của căn nhà, có thể gọi là mẫu nhà, như mẫu này là trường học, mẫu này là chợ, là chùa chiền…. 72 đại cách nhân với 720 bộ Can Chi ta có 1584 cách. Hay nói mẫu ngôi nhà biến hoá ra. Ví dụ cùng là cái chợ, nhưng cái này gọi là chợ xép, cái này gọi là siêu thị.

72 đại cách là 72 nghiệp chướng con người. 14 chính tinh là 14 cái nghiệp. Ví dụ TỬ VI nghiệp ưa gánh vác, LIÊM TRINH nghiệp ưa dò xét…, THIÊN PHỦ nghiệp ưa che chở che đậy…

Đánh giá sự thành công của lá số là bộ tứ Hoá, KHÔNG KIẾP DIÊU Y HÌNH. Tăng cường thêm tính cách tình cảm còn có HOẢ LINH, bộ Văn tinh XƯƠNG KHÚC . Tăng cường thêm sự mến mộ còn có các sao phong thưởng ân tặng… để việc luận đoán thêm chính xác.

Lá số TỬ VI là số mệnh của con người nhưng có người sinh ra nắm được số mệnh ấy, lại có 1 số người bị người khác nắm giữ. Cho nên số phận của mình bị người khác định đoạt. Toàn bộ lá số TỬ VI của mình ví như thân thể của 1 con người. Chi tiết thú vị là có người lấy cái miệng làm chủ mệnh, tức là cung Mệnh; có người lại lấy con tim, có người lại lấy tay chân… làm Mệnh cung. Cho nên có người lấy cái đầu làm lẽ sống, có người thành danh nhờ tay chân. Nhờ đó nhiều người đoán được bệnh lý.

Lá số TV là của mình, số phận như thế, cũng đừng vì xấu tốt trên cung số nào đó để oán ghét cung đó. Rồi nhìn ánh mắt thù hằn cung ấy. Đó là sai lầm trong nghiên cứu, vì cái nghiệp của ta như thế. Vấn đề còn lại của chúng ta tìm cách hoá giải được chừng nào hay chừng ấy.

TVUD. BĐ




Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

phượng hồng


                                          

Chút tình đầu
( trích thơ Đỗ Trung Quân)


………………………….
………………………….
Mối tình đầu của tôi có gì:
Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ
Ngọng nghịu mãi…thành câm.

        Bài thơ này được nhạc sỹ Vũ Hoàng phổ nhạc, bài hát Phượng Hồng rất được phổ biến và được yêu thích. Vũ Hoàng đã đổi mãi… thành câm bằng đứng…làm thơ nghe lãng mạn hơn. Vì nói trực tiếp không được phải mượn thơ nói, phù hợp ý câu nhờ bài hát nói giùm. Nhờ nhạc nói chưa đủ, thì nhờ thêm thơ hổ trợ chứ sao lại phải câm. Ai hiểu được người câm nói gì nếu không hiểu được kí hiệu biểu thị ngôn ngữ của họ.

       Bây giờ chúng ta thử Tử Vi hóa sơ lược đoạn thơ trên nhé.

-     Tình đầu: Tướng Khôi. Khôi chủ đầu tiên, sau này thành xưa, thành cũ dễ thấy cảnh không rủ cũng đến nếu có thêm Phục Binh. Trường hợp Tướng Quân thì luôn có Phục Binh xung. Tướng Việt là tình mới, là phát sinh tình cảm, là khuôn mặt mới xuất hiện.

-     Cây đàn nhỏ: Tấu Thư Văn Xương. Xương là nghe, còn biểu thị sự xúc cảm, nên Xương Khúc có tính lãng mạn. Tấu Thư luôn có Kình Đà nên lúc thì cao bỗng, lúc thì trầm lắng.

-       Nhờ bài hát nói giùm: Xương (Khúc) Bạch Hổ. Bạch Hổ là tỏ bày, là cách nói có định hướng, nhưng cách biểu lộ này cũng hơi hãi. Nếu Xương (Khúc) Thanh Long thì thổ lộ nhẹ nhàng hơn. Có Tấu Thư càng phù hợp.( chú ý, Thanh Long không bao giờ gặp Tấu Thư, chỉ trừ hạn hành đi qua). Hay nhất là Thiên Tướng Hồng Thanh Xương Khúc, nghe mà mê hoặc.

-     Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu: đây là câu trở thành danh ngôn trong tình yêu, có ẩn ý trách móc hoặc tự trách móc mình. Vì sao em không hiểu điều ta muốn nói? Hay em giả lơ không muốn hiểu ?.
           Lưu Hà? Vì sao thế? Thiên Cơ là cật vấn, tra hỏi, thắc mắc. Lưu Hà là vì sao, vì cớ gì mà vương vấn (Lưu).
           Cơ Linh Hà Kị. Linh là hờn giận ngầm, Kị là nghi ngờ. Nghi ngờ giận hờn mà tra hỏi. Nên nhớ Thiên Cơ luôn lục hội với Thiên Tướng.

-     gã khờ: Thái Dương Bệnh Phù. Ngày mệt mỏi. Người đàn ông cảm bệnh. Còn chủ về người đàn ông không có lực. Trong bài này, gã khờ mà không khờ. Ta chỉ khờ trước đôi mắt khuynh thành của em thôi nên ta là nạn nhân của em đó. Nếu có thêm Hư ta đúng là kẻ quá khờ dại, vụng về để rồi phải tủi thân vì ảo tưởng.         

-     ngọng ngịu mãi…thành câm: đây là cách Phục Hình, tức là Phục Binh Thiên Hình. Chứ không phải Việt Toái Diêu là bệnh câm điếc. Phục Hình Hư Kị là ngọng nghịu , là hình ảnh mang tính lập đi lập lại mà không rõ ràng. Hình luôn có Diêu tam hợp. Có thể dùng Phục Đà Kị để diễn ý sự thiếu tự tin gây cản trở luôn tái diễn mỗi khi muốn nói, nên nhớ Phục Binh nằm trong tam hợp Thanh Phi Phục, có Thanh Long là tiếng nói.

      Cuối cùng thành câm hay là tình câm cũng thế, vì mượn cây đàn nói chỉ là hình thức thăm dò thôi. Đẹp đấy, hay đấy nhưng em nào có hiểu chứ! Nên em cũng câm luôn, để yêu thương thành cô quạnh đơn phương Tướng Cô Quả  và hình bóng em là kỉ niệm không phai tàn trong anh Hình Ấn Tồn Tướng, dẫu là tình Tướng Hư.


  Bài thơ không nặng tính đa tình diễm lệ, mà ngược lại rất lãng mạn dễ thương của tuổi học trò. Một chút tình đơn phương nhẹ nhàng. Nên hung sát tinh không có. Bài thơ kết hai câu rất xao xuyến, khiến lão đây mỗi lần đọc lại càng bùi ngùi  khó quên tuổi học trò của mình:

Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa…
                                 
-   Cự Dương Đà: mang theo ánh nắng, hay cùng người đàn ông đi xa. Từ Ngọ là cung Ly biểu thị mùa Hè, ta thấy bộ Cự Dương Đà ở Dần. Hoặc Thái Dương cư Ngọ tam hợp Cự ở Tuất hai cung có Đà hội ở Dần cho tuổi Ất. Cách Cự Dương còn thấy từ cung Sửu, Mùi khi Tử Vi ở Tý Ngọ và Cự Tý Ngọ hội Thái Dương ở Thìn Tuất thấy từ Dần trong cách Tử Phá.
     Đà Dương: là theo người đàn ông, còn là ngày xuống, là nắng tà, ở Ngọ ý chỉ chiều mùa hạ. Bởi đâu đó, có lẽ trong em có hình bóng ai đó rồi.
     Cự Đà: mang theo ra đi, là cánh cửa đóng lại, là vẫy tay ly biệt, là khoảng cách giăng xa.

-   Dừng lại là Triệt. Triệt Tồn là không còn nữa. Ý câu thơ là em cùng mùa hè đi rồi, ngày tháng học trò qua rồi, tôi không còn gì nơi đây vì đã mất em, mất luôn chút tình câm thơ mộng.

-   nhớ ngẩn người: Tướng Quân Quốc Ấn, tam hợp với Lộc Tồn. Lời ủi an phủ dụ rằng em ra đi nhưng em vẫn còn trong tâm tưởng của ta, là ấn tượng khó phai nhòa.

-   tà áo lụa nào xa: Thiên Y Thanh Long hạn ngộ Thiên Hư, Lưu Hà. Tà áo xanh xuân, áo học trò nay chỉ còn là hư ảo, như dòng sông Lưu Hà trôi xa. (Thanh Long luôn có Phi Liêm tam hợp chủ bay đi ).


       Đầu năm nói chuyện tình , phải chăng tiểu hạn Liêm Tướng Việt Khôi nằm trong Đại hạn TPVTL, như số phận phải gánh nhận? Qua đây lão xin chúc quý thân hữu có một năm yêu thương tràn đầy.

Satrungkim





Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014

chúc mừng năm mới