Tản mạn
CHÍNH TẢ
T-Huyen
"Trăm năm trong cõi người ta
Chữ hỏi chữ ngã khéo là ghét nhau"
(thơ Nguyễn
"Dzui") hehehe!!.
Hôm
trước viết bài kể chuyện vui, bà con khen mừng lắm. Ít bữa sau hỏi vợ, anh viết
thế có ra nhà văn chưa? Vợ bảo có, thuộc vào loại nhà văn chuyên môn viết sai
chính tả. Hỏi sai chổ nào. Bảo thì cứ đếm 10 dấu hỏi ngã là sai 9 dấu rưởi.
Mình
vào Google tra. Té ra là hỏi ngã sai «tá hoả tam tinh» luôn. Mình trên thông
thiên văn, dưới rành địa lý, ở giữa táy máy tí mà hoá ra cũng trật.
Bài
này chỉ nhân chuyện sai dấu hỏi/ngã mà tán chuyện lung tung cho vui. Chỉ nói
đại theo kinh nghiệm riêng. Mà đúng hay sai gì cũng được, miễn là vui.
Té
ra dân từ Nghệ An vào đến Cà Mâu đều mắc phải nhược điểm hỏi/ngã này.
Này
nhé, TT Nguyễn Tấn Dũng, trong một đoạn lưu bút viết cho Trung Đoàn Phòng
Không ở Hải Phòng mấy năm trước chỉ có dấu ngã. Một đoạn khoảng 10 câu với 20
dấu ngã mà lẽ ra một nữa số đó phải là dấu hỏi. Ổng muốn ngã đấy, mà đã ai xô
ông ngã được nào.
Xưa
kia học giả Phạm Quỳnh cũng từng cố gắng tìm hiểu những nguyên tắc hỏi/ngã
nhưng không thành công. Ông dẫn chứng chữ «lý lẽ» và «chẵn lẻ» chẳng có quy tắc
gì để nói tại sao hai chữ lẻ mà một dấu hỏi, một dấu ngã.
Chỉ
có Thanh Hoá trở ra thì nói phân biệt được hỏi-ngã nên khỏi lo sai lỗi này.
Bù lại họ sai những âm như
tr -> ch, s -> x, d/gi -> z, một số vùng lại đổi l -> n và n -> l. Sai phổ biến nhất có lẽ là giữa âm 's' và 'x' . Chẳng hạn "hành sử"(sai) thay vì "hành xử"(đúng). Một số từ lại có thể chấp nhận cả hai cách viết như "sử dụng" và "xử dụng" đều được. Cái sai này cũng bị lây qua người ở trong Nam luôn.
Tuy
nhiên, hầu như ai cũng đồng ý là giọng chuẩn nhất, hay nhất là của Bắc 54, kể
cả những con cái của những người di cư từ trước năm 54 mà sinh ra trong Nam,.
Giọng Bắc với âm sắc rõ ràng, góc cạnh được đem vào Nam gọt cho tròn trịa hơn
một chút nên rất quyến rũ. Tới bây giờ ra hãi ngoại người ta vẫn dùng nó cho
MC hoặc cho ca sĩ hát hầu hết các bài.
Hồi
nhỏ mình vẫn tin lời ông thợ hớt tóc đầu xóm bảo giọng Quảng Trị chính là giọng
chuẩn xác nhất nước Viêt Nam. Ổng dẫn chứng, như «ăn» thay vì «ăng». Hớt tóc
thay vì hớc tóc, … đại khái dẫn chứng nào mình cũng phục.
Lớn
lên đi ra ngoài, nhiều người than phiền giọng trọ trẹ nói khó nghe. Mà người
ta nói cũng có lý.
Bằng
chứng là giọng QT không phân biệt được âm cuối nh. Chẳng hạn «thành công» thì
nói là "thần công". Sai lầm tại hại nhất là không phân biệt được âm
«it» và «ich». Hay nói cách khác là cả hai chữ đều được nói như nhau là «it»,
như cú hích thì nói là cú hít. "Có ích" thì nói là "có
ít", nhiều khi khen mà như chửi.
***
Giờ
thì vào chuyện, phải xin lỗi trước bá tánh. Trước là các cụ Quảng Trị (và cả
Quảng Bình). Sau là xin lỗi vì nói tục.
Chuyện
rằng hồi trước 75 có anh lính Quảng Trị (QT) vào Nha Trang trốn lính mà vẫn bị
bắt. Anh vào quân trường Đồng Đế huấn luyện. Tuy giọng khó nghe nhưng được
cái mắt sáng. Đứng xa 100 mét vẫn thấy lổ đạn bắn rõ mồn một.
Vào
học chừng 2 tuần thì đại đội cho bắn đạn thật để thử khả năng, tìm người đưa
đi huấn luyện bắn tỉa. Anh lính QT được phân công nhìn bia và thông báo kết
quả. Hầu hết đều bắn trật. Mỗi lần như vậy anh phải hô to «trật mục tiêu».
Mãi
tới anh lính thứ 11 thì phát đầu tiên đã bắn trúng ngay tâm điểm. Anh lính QT
thích qua hô to «Trúng đích».
Cả
một trung đội chững đi một giây rồi trở nên náo loạn. Anh lính đang nằm bắn
nghe hô rỏ ràng là «trúng đít». Nghĩ mình mới nổ phát súng đầu đời mà đã lạc
đạn trúng đít đứa nào rồi. Sợ quá quăng súng bỏ chạy.
Cấp
chỉ huy thì nháo nhào, anh thì gọi xe cứu thương, anh thì tìm coi đạn “trúng
đít” đứa nào, nặng hay nhẹ.
Anh
lính QT cứ vò đầu bứt tai "em nói trúng đích là trúng đích chứ không phải
trúng đít".
Cả
đám nghĩ anh này chắc hoảng loạn, phải cho quá giang xe cứu thương về tiêm
mũi thuốc an thần. Chứ sao lại đi nói "em nói trúng đít là trúng đít chứ
không phải trúng đít", chả ai hiểu được.
Tới
cả một đổi sau mới giải toả hiểu lầm, sau khi anh lính QT giậm cẵng bảo ý em
nói là trúng mục tiêu.
Hôm
sau lên gặp đại đội trưởng anh vẫn cãi là giọng anh phân biệt được hai từ
này. Anh nói chữ đích thì giọng cao vót lên ở cuối. Còn chữ đít thì xuống thấp
giọng ở sau. Ông đại uý nghe anh lập đi lập lại cũng gật đầu đồng ý. Bảo là ừ
đúng là cao, thấp có khác nhau thật. Nhưng mà đít cao hay đít thấp thì cũng
là đít, chứ mày biểu tao hiểu sao bây giờ?
Mấy
hôm liền tiếp sau đó, anh lính bị phạt cái tội nói sai quy định (phải nói là
trúng mục tiêu mới đúng). Bị giam trong phòng, học nói cho được hai tiếng
“đít” và “đích”. “Đích là để ngắm”, “đít là để ngồi”.
Hai
hôm sau, đích thân viên Đại đội trưởng vào kiểm tra. Thấy anh lính QT phát âm
phân biệt rõ hai chữ. Đ Đ T gật gù, chỉ vào mông hỏi cái này là cái gì? Đang
mơ màng nghĩ về cô hàng xóm, anh lính nói là cái đích (tức để ngắm). Ông Đ Đ
T giật mình xua tay, “thôi thôi, cho mày xuống nấu ăn. Để mày làm lính tác
chiến có ngày tao không có cái mà ngồi”.
Đó
là chuyện lính. Sĩ quan Quảng Trị cũng chẳng khá hơn. Dạo đó lính trong Nam rất
sợ làm quân của mấy ông chỉ huy người Quảng Trị. Kỷ luật quân đội mà qua tay
mấy ổng càng thêm gay gắt. Hô một tiếng là phải tuân lệnh ngay lập tức. Khổ
cái mấy ông nhiều khi hô sai, làm lính thiệt mạng oan có ngày.
Chuyện
là có một trung đội kia toàn lính người Nam. Chỉ riêng anh Thiếu uý trung đội
trưởng (TĐTr) là người QT. Một bữa nọ đi hành quân nghỉ chân, chia nhau mấy củ
khoai nóng, bình nước suối rồi thiu thiu nghỉ. Anh TĐTr bất chợt nhìn ra
ngoài thấy địch quân đang tới gần bèn hô báo động “địch, địch”, mắt vẫn không
rời địch quân. cả trung đội lính giật mình tỉnh giấc, tưởng đâu trung đội trưởng
ra lệnh “địt, địt” bèn quăng súng ôm bụng rán. Địch nó mò tới bắn cho. Chạy
vãi!
Về
đồn cải nhau chí choé, chẳng bên nào chịu thua. Tức quá tay Thiếu Uý bảo mai
họp, mời cả đại đội trưởng xuống phân xử.
Hôm
sau vào họp anh Thiếu Uý bảo các anh nói tôi phát âm sai hả? Được! (Tát bốp bốp
hai cái vào miệng mình) rồi tiếp: Nó nói sai tôi xữ nó. Được chưa? Còn các
anh, các anh tính sao? Đầu óc của các anh để đâu? Nghĩ đi, tôi bảo các anh địt
để làm gì? Làm gì mới được chứ? Hả?
cả
trung đội im thin thít. Ông đại uý đại đội trưởng khoát tay “tiểu đội 1, nói
nghe coi lý do tại sao?” Tay tiểu đội trưởng lấm lét trả lời “dạ thưa đại uý,
áo quần bọn em cũng củ rồi. Bọn em tưởng Thiếu uý tốt bụng bày cách cho tụi
em làm rách quần để lãnh đồ mới”.
Tay
Đại uý bấm bụng nhịn cười, không dám cho viên tiểu đội trưởng ấy nói thêm lời
nào. Nạt ngang “tụi mày ăn nói dấy dá. Tiểu đội 2 đâu, nói nghe coi tại sao”.
Tay
Hạ sĩ tiểu đội trương đội 2 khúm núm bảo “dạ thưa đại uý, hôm đó trời nóng
quá, bọn em tưởng Thiếu Uý muốn bọn em tạo chút gió cho thoáng”.
Tay
Đ Đ Tr không nhịn cười được, ôm bụng cười lăn quay. Tiểu đội trưởng TĐ 3 đưa
tay xin nói nhưng ông Đại uý xua tay “dẹp, dẹp, không họp nữa. giảii tán”.
Nói nữa ông cười nữa. Mà cười nhiều quá ông sợ tay TĐTr quê.
Hôm
sau ông Đại uý kêu anh Tiểu đội trưởng TĐ 3 vào gặp riêng hỏi cho ra lẽ chuyện
hôm qua. Anh tiểu đội trưởng thưa “Đại uý, bữa đó em thấy địch quân tiến lại
gần chứ. Nhưng em nghĩ TĐTr của em thường tự ví mình như Khổng Minh- Gia Cát
Lượng, có thể nhìn thiên văn mà biết chừng nào có gió và gió hướng nào. Nếu bọn
em tạo chút mùi, vừa kịp lúc cơn gió ấy thổi đến, đẩy bay về hướng đó. Bên
kia bắt được thế nào cũng nghĩ bọn em chơi vũ khí hoá học. Quay đầu bỏ chạy,
rồi có đứa cũng vỡ tim mà chết”.
***
Quay lại chuyện dấu hỏi - ngã, vì một nữa đất nước nói không phân biệt được nên thực sự nó cũng không quan trọng trong hầu hết các trường hợp. Có nghĩa là có viết sai thì ai cũng hiểu. Chẳng hạn nói hôm nay "nghĩ" ở nhà. Hầu như ai cũng hiểu đúng là hôm nay "nghỉ" ngơi ở nhà. Hoặc nếu nói "nghỉ" gì mà mặt nhăn thế. Ai cũng có thể hiểu đúng là suy "nghĩ" gì mà mặt nhăn. Tức là nghỉ ngơi hay nghĩ ngợi, chữ nghỉ có thể hỏi hay ngã người ta đều hiểu đúng.
Riêng
mình, sai lỗi hỏi-ngã này là vì xưa đi học chẳng ai bắt mình lỗi này. Chữ xấu
quá không ai đọc được để thấy lỗi.
Dạo
đó đi học mình thấy lạ một điều là viết văn hay cách mấy cũng 5 điểm mà dở
cách mấy cũng 5 điểm. Sau này nghỉ học, nhậu với một thầy dạy văn củ, mới vở
lẽ ra một điều. Hồi đó thầy hay cô gì cũng vậy, cầm bài văn mình lên là lật lật
đếm coi mấy trang rồi gãi đầu ba cái, gãi rốn hai cái, cho 5 điểm. Lời phê
thì đại loại như “cần thêm tính văn học” hay “cần bổ sung tính nghệ thuật”.
Thầy hay Cô có khác nhau thì cũng chỉ là bên gãi mạnh, bên gãi nhẹ thôi, chứ
ôm bài luận của mình là chạy làng hết.
Chuyện
học hành mình không quan tâm. Nhọc nhằn nhất là chuyện viết thư tình đầu tay.
Còn
nhớ lần đầu viết thư tình. Mình suy nghĩ 3 đêm. Cắn bể 3 cây viết. Lung lay
hai cái răng nanh. Xong, nắn nót viết được 3 trang. Đưa thư tình thì lén lút
như đi giao thuốc phiện. Giao xong đi ra ngoài gặp mặt ông bố mắt cứ lườm lườm
như công an nhìn buôn lậu. May mình mang đồ bộ đội chứ không ổng thộp cổ thoi
cho phát rồi.
Vài
hôm sau lên chơi. Sau khi phân ngôi chủ khách, cả hai đều an toạ, mình mới ướm
hỏi chuyện lá thư. Mặt nàng trở nên hầm hầm như trong lò hấp. Nàng bảo anh viết
thư cho em mà viết cẩu thả đến mức đó thì anh coi em có còn ra cái gì? Mình
nói trời đất ơi, anh nắn nót hết sức rồi đó. Nàng bảo còn nói láo nữa à?
Không có ai trên đời này viết chữ xấu như vậy cả. Mình xoè bàn tay phải ra
nói, em coi đây, 15 năm nay anh viết bằng tay phải này. Đến khi viết thư cho
em, anh cho nó cầm viết, mà còn chưa dám tin nó nữa. Phải lấy thêm cả tay
trái hổ trợ cho nó. Chữ nào viết khó quá là hai tay phải thống nhất với nhau
trước khi cùng viết. Mất hết thời gian đó em. Nàng giậm cẵng, nói có một lỗi
đó thôi mà không chịu nhận, không chơi được rồi.
Tổng
kết lại là thức 3 hôm + hư 3 cây viết + mất 3 trang giấy (chưa kể lung lay
hai cái răng) = mà rút cuộc được kết 3 tôi: Tội thứ nhất là cẩu thả, coi thường
con gái. Tội thứ hai là gian dối, tìm đủ cách biện bạch. Tội thứ ba là ngoan
cố, dứt khoát không nhận tội. Vụ này mình lỗ nặng. Trăm sự cũng tại chữ xấu
quá.
Nhiều
người thắc mắc hỏi, ba hôm mà viết có ba trang thôi à?
Dạ
thưa, 3 trang là nói cho oai. Chứ viết chữ nào chữ ấy to như con bò, có vài
câu là hết một trang rồi.
Là
tại vì học xong 12, ra trường kiến thức chỉ còn nhớ có 5 điều bác Hồ dạy. Hát
tặng người yêu thì đi đi lại lại cũng chỉ có một bài "như có bác Hồ
trong ngày vui đại thắng".
Bữa
đó hai hôm đầu không được chữ nào. Hôm thứ ba kẹt quá kiếm tờ báo tìm bài mẫu.
May sao vớ trúng tờ Nhân Dân, trang đầu tiên có ngay một bài "Thư gữi
...". Mừng hết lớn. Mình cóp ngay bài này. Sữa vài chữ là có ngay một lá
thư như vậy nè:
--- Cộng Hòa XHCN Việt Nam Độc Lập - Tự Do - Hạnh Phúc
Kính
gửi đồng chí Gái!
Trong
không khí hân hoan chào mừng ngày thành lập Quân Đội Nhân Dân Việt Nam, đồng
chí tui (là anh đây) xin trân trọng gửi đến đồng chí Gái lời chào thân ái nhất.
Năm
qua, chúng ta may mắn có Nghị Quyết NQ34 (đọc là anh-cu 34) làm kim chỉ nam
soi đường. Chúng ta còn có Nghị định ND35 (đọc là anh-dê 35) bổ sung của
Chính Phủ (trúng mánh rồi đ/c gái ạ). Chúng ta nguyện theo đuổi con đường đảng
và chính phủ đã vạch ra.
Cuối
thư xin chúc đồng chí luôn khỏe (và dứt khoát không có ghẻ).
Ký
Tên: Nguyễn Cu-Ba
---
May
sao bữa đó nàng không đọc ra. Chứ không lại bị kết thêm một tội nữa, đó là
khùng.
***
Quay
lại chuyện ngôn ngữ, từ Huế trở vào thì ngoài hỏi-ngã còn mắc thêm những lỗi
như:
- thông dụng nhất là âm cuối “n” -> “ng”. Như ăn -> ăng. Nhiều chữ sai rất nặng như “bàng quan” (không quan tâm) trở thành “bàng quang” (bọng đái). Vì người Nam chỉ nói được chữ “bàng quang”. - Âm cuối chữ “t” -> “c” như “tất yếu” -> “tấc yếu”. Chữ dể sai như “khoát tay” (như xua tay) và “khoác tay” (ôm). Những từ địa danh ít xài thì rất dễ sai. Người học ít thì viết chử 't' thành chữ 'c' như ví dụ trên. Người học nhiều thì trái lại viết 'c' thành 't', như "Đồng Lác" (ở Cam Ranh) viết thành "Đồng Lát". "rắc rối" thành "rắt rối". - Vô sâu trong Nam nữa thì “v”-> “d” như “về” -> “dề”. “r” -> “g” như “rữa” -> “gữa”.
Xưa
kia, khoảng những năm 30 thế kỹ trước. Cũng có một dạo các học giả miền Nam
muốn tách rời chương trình giáo dục với Miền Bắc. Như viết theo cách phát âm
miền Nam. Văn chương thì học Nguyễn Đinh Chiểu mà không học Nguyễn Du. May mà
một số lớn trí thức không ủng hộ phong trào đó.
Một
lỗi mà cả nước đều mắc phải là chữ “o” và “ô”. Mình gặp lỗi này cả ở những
người có trình độ ở VN. Thường sai lỗi này có ý nghĩa rất tai hại. Một số ví
dụ thông dụng như:
- trông mong (chờ trông) và trông mông (nhìn mông người nào) - Chống và chóng. Đi lính có người viết lời chúc là “đi chóng về nhé” thì vui, cám ơn. Người nào viết “đi chống về nhé” là trù mạt người ta đạp mìn rồi chống nạng về. *** Hết chuyện Quảng Trị mình quay sang chuyện xứ khác nha.
Chuyện
mình “phút đầu gặp ông” (Gia) đó. Không có “tinh tú quay cuồng” nhưng cũng một
phen vỡ mật.
Bữa
đó mình đến nhà vợ chưa cưới. Gặp cậu em, mình bắt tay cười làm thân vì nghe
đâu cậu ấy cũng cộc tính. Lại mới bị bồ đá đâu đó nên hơi ớn. Ra vườn, ông
Gia đang loay hoay làm gì đó. Thấy cậu em vợ mình đứng xớ rớ. Ổng bảo mày đi
kiếm con dâu đi. Mình ngạc nhiên quá trời, không biết ổng nói chơi hay thiệt.
Chuyện kiếm vợ thời nay đâu có đơn giãn như thời các cụ.
Như
mình đây, cua gái đến trọc tóc tróc lưỡi mới được. Sao ổng bảo cậu em đi kiếm
cho ổng một con dâu dể dàng vậy?
Chuyện
chỉ vậy thôi và mình nghĩ cũng chẳng có gì đáng nói. Đằng này cậu em không
nói không rằng, xầm xập chạy vào nhà xách ra con dao, làm mình tái mặt. Định
nhảy ra can, nói Ba có nói gì không phải thì cậu tìm lời nói lại chứ sao lại
xách dao ra đòi ăn thua đủ? Nghĩ vậy thôi chứ mình là đứa nhát gan, thấy vậy
thì sợ cứng người không nhúc nhích nổi. Chừng cậu ấy đi tới gần, mình chỉ muốn
hét lên một tiếng “chạy” mà cứng lưỡi không nói được. Nhưng cậu em lại trở
cán dao đưa cho ông Già. Ông già cầm dao rồi cặm cụi làm việc tiếp như không
có chuyện gì. Mình ớ ra một đổi mới vỗ trán: à thì ra là ổng nói giọng Quảng
Ngãi, mà ở QN người ta gọi “con dao” là “con dâu”. Ổng bảo "lấy con
dâu" tức là "lấy con dao". Hú hồn!
***
Nhiều
khi từ cách nói khác nhau lâu ngày thành cách viết cũng khác nhau luôn. Đôi
lúc còn có tranh cải như chữ "rán sức" và "ráng sức". Chữ
sau có lẽ mới có sau này chứ chữ trước mới là chữ đúng. cải nhau chán rồi người
ta bảo thôi huề, xài kiểu nào cũng được.
Lại
có nhiều học giả bảo là sau này nhiều chữ sai quay lại rượt chữ đúng chạy trối
chết.
Chuyện
một ông Nha Trang ra học Trung Cấp Sư Phạm Tuy Hoà kể rằng. Một hôm ổng nói lấy
tui cây chổi. Ông Ninh Hoà hỏi lại cây chổi là cây gì? Trả lời là cây chổi
quét nhà. Ông Ninh Hoà "gì mà cây chổi ông? Phải nói là cây chởi mới đúng".
Ông Tuy Hoà nghe tức quá nhảy vào cải liền "cây chởi là cây gì? Phải nói
là cây chẩu mới đúng". Ba ông cải nhau tới sáng mai chưa dứt.
Chỉ
là ba huyện của một tỉnh mà tên gọi của một đồ vật thông dụng vẫn không thống
nhất nổi. Vậy thì không biết có nên công nhận rằng "phong ba bảo táp, ngữ
pháp Việt Nam" không đây?
Để
kết thúc bài này ở đây. Xin mượn hai câu cũng của thi sĩ Nguyễn “Dzui":
" Lời quê chắp nhặt dông dài
Mua vui cũng được một vài ... phút giây"
Xin
nhường diễn đàn lại cho bà con.
T
– Huyen
|
Thứ Ba, 21 tháng 4, 2015
888
Thứ Tư, 25 tháng 2, 2015
THỜI GIAN
TÌM HIỂU CỘI NGUỒN THƯỚC ĐO THỜI
GIAN
Thời gian là một khái niệm mà
theo cách nào đó,ngày nay chúng ta vẫn xem là điều hiển nhiên. Đã bao giờ bạn
thắc mắc tại sao 1 năm lại có 12 tháng, hay tại sao tháng 9 lại có 30 ngày? Tại
sao ta lại có các múi giờ khác nhau? Tại sao một ngày lại có 86.400 giây?
Trong bài này chúng ta sẽ làm rõ các khái niệm về thước đo thời gian.
Về bản chất, thời gian là một một
khái niệm trừu tượng và khó để hiểu thấu đáo. Chúng ta chẳng thể nhìn thấy nó
hay cảm nhận nó, chỉ biết rằng nó đang diễn ra. Trong lịch sử, con người đã
dùng nhiều cách để đo thời gian.Hầu hết mọi nền văn hóa đều mặc định thời điểm
trời bắt đầu sáng là lúc khởi đầu của thời gian. Theo sau ngày là đêm, khi
ánh mặt trời bắt đầu tắt. Cơ thể con người cũng tự điều chỉnh để theo vòng
quay này thông qua việc ngủ, và mỗi sáng khi thức dậy chúng ta lại bắt đầu 1
ngày mới.
Chúng ta sử dụng đồng hồ để chia ngày ra thành nhiều thời điểm nhỏ hơn, rồi lại dùng lịch để phân nhóm các ngày lại thành thời điểm lớn hơn. Cả 2 hệ thống thời gian đều có những điểm hết sức thú vị mà ta sẽ tìm hiểu tiếp theo đây. Đo thời gian Phép đo thời gian có phạm vi rất rộng, ở đây chúng ta tìm hiểu một số đơn vị đo thông thường, xắp xếp từ đơn vị thời gian ngắn nhất đến dài nhất. • 1 picosecond (1 phần nghìn tỷ giây) – Đây là khoảng thời gian ngắn nhất mà chúng ta có thể đo chính xác. • 1 nanosecond (1 phần tỷ giây) – Trung bình, một máy tính cá nhân mất khoảng từ 2 đến 4 nanosecond để thực thi một mệnh lệnh từ một phần mềm nào đó. • 1 microsecond (1 phần triệu giây). • 1 millisecond (1 phần nghìn giây) – Đây là khoảng thời gian phơi sáng ngắnnhất của phim trong một máy ảnh thông thường. Một bức ảnh được chụp trong1/1ngàn giây sẽ bắt được chuyển động nhỏ nhất của con người. • 1 centisecond (1 phần trăm giây) – Đây là khoảng thời gian mà một tia chớpnổ. • 1 decisecond (1 phần mười giây) – Khoảng thời gian của 1 cái chớp mắt. • 1 second (1 giây) – Trái tim của một người trung bình đập 1 lần/1 giây. • 60 giây – 1 phút (minute), bằng thời gian của một đoạn quảng cáo dài. • 2 phút – Khoảng thời gian dài nhất mà một người bình thường có thể nín thở. • 5 phút – Là khoảng thời gian lâu nhất mà bạn có thể chịu đựng khi đợi đèn đỏ. • 60 phút – 1 tiếng đồng hồ (hour), là khoảng thời gian lâu nhất mà bạn có thểngồi yên trong lớp học mà không trở nên đờ đẫn. • 8 tiếng – Thời gian làm việc tiêu biểu hàng ngày ở nhiều nước trên thế giới,cũng là thời gian ngủ cần thiết cho mỗi người mỗi đêm. • 24 tiếng – 1 ngày; là khoảng thời gian mà trái đất quay hết 1 vòng quanh trụccủa nó. • 7 ngày – 1 tuần. • 40 ngày – Là khoảng thời gian lâu nhất mà con người có thể tồn tại mà khôngcó thức ăn. • 365,24 ngày – 1 năm; khoảng thời gian trái đất hoàn tất một vòng quay quanhmặt trời. • 10 năm (year) - 1 thập kỷ. • 75 năm – Tuổi thọ trung bình của con người. • 5.000 năm – Chiều dài lịch sử được ghi chép lại. • 65 triệu năm – Khoảng thời gian kể từ khi loài khủng long tuyệt chủng. • 200 triệu năm – Khoảng thời gian kể từ khi động vật có vú bắt đầu xuất hiệntrên trái đất. • 3,5 đến 4 tỉ năm – Khoảng thời gian kể từ lúc bắt đầu có sự sống trên tráiđất. • 4,5 tỉ năm – Tuổi của trái đất. • 10 đến 15 tỉ năm – Tuổi dự đoán của vũ trụ kể từ vụ nổ lớn big bang. Một ngày dài bao nhiêu? Một ngày là khoảng thời gian trái đất tự quay quanh trục của nó,nhưng chính xác nó mất bao lâu để hoàn tất vòng quay? Có nhiều quan điểm khácnhau, nhưng cả thế giới đã đồng thuận tiêu chuẩn hóa những khoảng thời giansau: • Một ngày bao gồm 2 giai đoạn 12 tiếng đồng hồ, tổng cộng sẽ có24 tiếng đồng hồ. • Một tiếng có 60 phút. • Một phút có 60 giây. • Giây lại được chia nhỏ ra theo hệ thập phân thành những đơn vị nhỏ hơn nhưphần trăm hay phần ngàn giây. Cũng phải nói rằng cách chia thời gian như hiện tại khá “rắc rối”.Chúng ta chia 1 ngày ra làm đôi, rồi lại chia mỗi nửa ra 12 phần, rồi mỗi phầnnày lại chia 60, rồi chia 60 thêm lần nữa…Chả trách trẻ nhỏ phải chật vật học cách tính thời gian.
Tại sao lại có 24 tiếng trong 1 ngày?
Không ai thật sự biết chắc điều này. Tuy nhiên giải thích đượcnhiều người tán thành nhất là: ngày xưa, trước khi con người biết chữ viết thìhọ đã biết dùng các ngón tay để đếm. Và một cách đếm được sử dụng rộng rãi ở những nền văn minh xưa là dùng ngón tay cái đếm các đốt ngón tay trên cùng 1bàn tay. Như vậy, ngón cái sẽ đếm 4 ngón tay còn lại trên bàn tay, mỗi ngón taylại có 3 đốt, 4x3=12, đó là số giờ đồng hồ họ phân chia thời gian ban ngày, và tương tự cho thời gian ban đêm. Vậy là chúng ta có 24 giờ 1 ngày. Tại sao lại có 60 phút/1 giờ, và 60 giây/1 phút? Cũng chưa ai biết rõ điều này. Tuy nhiên, những người Ai Cập đã có thời sử dụng một bộ lịch có 12 tháng, mỗi tháng có 30 ngày, tổng cộng họ có 360ngày/1 năm. Nhiều nhà nghiên cứu tin rằng đây chính là lý do chúng ta chia đường tròn thành 360 độ. Nếu chia 360 cho 6 ta được 60, và 60 cũng là con số cơ sở trong hệ thống toán học của người Babylon. a.m và p.m có nghĩa là gì? Đây là chữ viết tắt của ante meridiem – trước buổi trưa, postmeridiem – sau buổi trưa, và đây là sáng kiến của người La Mã. Theo Daniel Boorstin trong cuốn sách của ông có tựa “The Discoverers”, thì đây là cách phân chia thời gian một ngày làm 2 phần (trước và sau buổi trưa) của nười La Mã. Người hiện đại tính thời gian dựa trên giây. Một ngày được định nghĩalà khoảng thời gian của 86.400 giây, và một giây lại được chính thức định nghĩa bằng 9.192.631.770 lần dao động của một nguyên tử cesium 133 trong đồng hồ nguyên tử. Múi giờ Mọi người ở khắp nơi trên hành tinh đều mong thấy mặt trời ở trên đỉnh đầu vào giữa trưa. Nếu chỉ có 1 múi giờ thôi thì điều này không thể xảy ravì cứ mỗi giờ trôi qua trái đất lại quay hết 15 độ. Vì vậy, trái đất được chia thành 24 múi, mỗi múi 15 độ, và đồng hồ sẽ được đặt tùy thuộc vào mỗi múi giờ.Mỗi múi giờ cách nhau 1 tiếng đồng hồ. Ví dụ, lãnh thổ nước Mỹ được chia thành 4 múi giờ: múi giờ miền Đông (East), múi giờ Trung tâm (Central), múi giờ Miềnnúi (Mountain), và múi giờ Thái Bình dương (Pacific). Khi ở múi giờ miền Đônglà giữa trưa, thì ở múi giờ Trung tâm là 11 a.m, ở múi giờ Miền núi là 10 a.mvà ở múi giờ Thái Bình dương là 9 a.m.
Bản
đồ múi giờ trên thế giới.
Điều chỉnh đồng hồ để kéo dài ngày vào mùa hè(Daylight-saving Time - DST) Trong chiến tranh thế giới I (CTTG I), nhiều nước bắt đầu điềuchỉnh đồng hồ vào một số thời điểm trong năm nhằm điều chỉnh giờ ban ngày,trong những mùa ban ngày dài hơn ban đêm, để khớp với thời gian con người còn thức khi trời sáng. Trong CTTG I thì mục đích của việc này là tiết kiệm nhiên liệu dùng để thắp sáng. Ngày nay, Mỹ và vài quốc gia khác vẫn áp dụng việc điều chỉnh này.Ở Mỹ, trước đây, thời điểm bắt đầu điều chỉnh đồng hồ là vào ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng 4, và kết thúc vào Chủ Nhật cuối cùng của tháng 10. Tuy nhiên,kể từ năm 2007 trở đi, DST sẽ bắt đầu vào 2 a.m của ngày Chủ Nhật thứ 2 củatháng 3 và kết thúc vào 2 a.m ngày Chủ Nhật đầu tiên của tháng 11. Theo đó, đồng hồ sẽ được vặn tới 1 tiếng vào mùa xuân, và vặn lui 1 tiếng vào mùa thu. Như vậy, vào mùa xuân, bạn mất mỗi ngày 1 tiếng nhưng sẽ lấy lại vào mùa thu. Vào mùa đông, Mỹ theo giờ tiêu chuẩn. Vào mùa hè, họ áp dụng DST. Tuy nhiên có một số bang (như Arizona) không quan tâm đến DST và vẫn giữ giờ tiêu chuẩn suốt cả năm. Lịch năm Cách tính năm khá rõ ràng và dễ hiểu. Con người tạo ra khái niệm năm dựa trên sự lặp đi lặp lại theo chu kỳ của các mùa. Việc dự đoán thời điểm bắt đầu của các mùa rất quan trọng trong nông nghiệp. Hầu hết cây cối đều đâm chồi và cho trái vào những thời điểm nhất định trong năm. Một năm là thời gian trái đất quay quanh mặt trời. Thời gian nàykhoảng 365 ngày. Nếu tính chính xác thì con số này sẽ là 365.242199 ngày. Chúng ta lấy những số lẻ bằng cách thêm vào một ngày sau mỗi 4 năm, và ta đc con số xấp xỉ là 365,25 ngày/1 năm. Đây cũng là lý do ta có năm nhuận, là những năm dài hơn 1 ngày so với năm bình thường (tính theo dương lịch).Cách tính năm nhuận (năm dương lịch):Theo lịch Gregory - loại lịch tiêu chuẩn hiện nay được dùng trên hầu khắp thế giới thì những năm nào chia hết cho 4 được coi là năm nhuận. Trong năm nhuận, tháng 2 có 29 ngày thay cho 28 ngày. Cứ 4 năm lại thêm 1 ngày vàolịch bởi vì một năm dương lịch dài khoảng 365 ngày và 6 giờ. Tuy nhiên, vẫn có một số ngoại lệ đối với nguyên tắc này vì một năm dương lịch ngắn hơn 365.25 ngày một chút. Những năm chia hết cho 100 chỉ được coi là năm nhuận nếu chúng cũng chia hết cho 400. Ví dụ, 1600và 2000 là các năm nhuận nhưng 1700, 1800 và 1900 không phải năm nhuận. Tương tự như vậy, 2100, 2200, 2300, 2500, 2600, 2700, 2900 và 3000 không phải năm nhuận nhưng 2400 và 2800 là các năm nhuận. Theo nguyên tắc này thì trung bình một năm có 365 + 1/4 − 1/100 + 1/400 = 365.2425 ngày, tức là 365 ngày, 5 giờ,49 phút và 12 giây. Lịch tháng Khái niệm tháng bắt đầu từ mặt trăng. Khi xem lịch, chúng ta thấycó tháng có 28 ngày, tháng lại 29 ngày, một số có 30 ngày và số còn lại có 31ngày. Sau đây là lý do: • Người La Mã xưa sử dụng bộ lịch chỉ có 10 tháng (bắt đầu từ năm738 TCN). Các tháng này có tên (tiếng La tinh) là: Martius, Aprilis, Maius,Junius, Quintilis, Sextilis, September, October, November and December, trongđó, các tên từ Quintilis đến December trong tiếng La tinh có nghĩa là 5, 6, 7,8, 9, 10. Bộ lịch này đếm thiếu khoảng 60 ngày. • Để khắc phục, sau này người ta thêm 2 tháng Januarius và Februarius tiếp vàosau. • Vào năm 46 TCN, hoàng đế Julius Caesar cho đổi lịch nhưng vẫn giữ nguyên têngọi của các tháng. Theo lịch mới này thì các tháng có 30 hoặc 31 ngày, trừ tháng Februarius ở cuối cùng có 29 ngày. Cứ mỗi 4 năm, tháng Februarius lạiđược cộng thêm 1 ngày (lý do đã nói phần trên). Sau đó, hoàng đế lại quyết định lấy tháng Januarius làm tháng đầu tiên của năm (thay cho tháng Martius trướckia), vì vậy tháng Februarius trở thành tháng thứ 2. Đây là lý do tại sao ngày nhuận lại nằm ở thời điểm “bất thường” này trong năm.• Sau khi Julius mất,người La Mã đã đổi tên tháng Quintilis thành Julius (sau này sang tiếng Anhthành July) để tưởng nhớ vị hoàng đế này. Tương tự, sau này tháng Sextilis đượcđổi thành Augustus (thành August) để tưởng nhớ hoàng đế Augustus. Augustus đãdời 1 ngày từ tháng Februarius sang tháng Augustus để nó có cùng số ngày với tháng Julius.
(Các tháng tương ứng (từ 1 đến
12) trong tiếng Anh ngày nay là January, February, March, April, May, June,
July, August,September, October, November, December).
Ngày, tháng, năm đều có nguồn gốc tự nhiên của nó, nhưng tuần thì không. Khái niệm tuần xuất phát từ Kinh Thánh. "Trong sáu ngày, ngươi sẽ lao động và làm mọi công việc của Người. Nhưng ngày thứ bảy là ngày nghỉ kính Giavê Thiên Chúa của người." Vì vậy người theo Thiên chúa giáo có ngày sabbath (là ngày thứ 7 theo đạo Do thái, và Chủ nhật theo đạo Cơ đốc). Người La Mã đặt tên các ngày trong tuần theo tên của mặt trời, mặt trăng, và của 5 hành tinh mà họ biết lúc bấy giờ: Sun (mặttrời), Moon (mặt trăng), Mars (sao Hỏa), Mercury (sao Thủy), Jupiter (sao Mộc),Venus (sao Kim), Saturn (sao Thổ). Tiếng Anh mượn 3 tên cho 3 ngày trong tuần là Sunday (CN), Monday (T2), và Saturday (T7), còn các tên khác được họ lấytheo tên các vị thần Anglo-Saxon: Tuesday (T3) từ Tiu (hay Tiw, tiếng Anglo-Saxon của Tyr – thần chiến tranh), Wednesday (T4) mượn từ Woden – cha củaTyr, Thursday (T5) – bắt nguồn từ Thor, vị thần sấm chớp; Friday mượn từ Frigg’s day (Frigg là vợ của Woden, biểu tượng của tình yêu và sắc đẹp).
(Lý Học Đông Phương)
|
Thứ Bảy, 18 tháng 10, 2014
VCD yểu không?
NÓI CHUYỆN TỬ VI
[TẠP CHÍ KHHB SỐ 23 RA NGÀY 06/10/1972]
MỆNH VÔ CHÍNH DIỆU CÓ “PHI YỂU TẮC BẦN’ KHÔNG?
(Cụ Quản Văn Chính, Cử nhân Việt Hán 25 bis Tự
Đức-Saigon)
Trong số những độc giả đã gửi thư, hoặc đã lại tận nhà yêu cầu tôi viết tiếp về những điều căn bản cần được thấu triệt để có thể đoán trúng một lá số Tử Vi, tôi để ý nhất đến B.S Hoàng Đình Hiển, hiện đương là y sĩ giải phẫu tại Quân Y Viện Quảng Ngãi.
BS Hiển vừa mới có một cậu con trai, và khi lập xong lá số Tử Vi, ông hơi băn khoăn khi thấy cháu có Mệnh vô Chính Diệu. Nhiều sách và nhiều thầy Tử Vi cho rằng cung Mệnh không có sao chính (một trong số 14 sao của vòng Tử Vi, Thiên Phủ) đóng thì “nếu không nghèo tất chế sớm”.
BS Hiển nhờ tôi giải tỏa nỗi băn khoăn. BS có cho tôi biết thêm là hơn 10 năm nay, từ khi còn là một sinh viên IV-Y Khoa, ông vẫn cố gắng làm tròn nhiệm vụ và luôn luôn lấy cái lý tưởng “Cứu nhân độ thế” của các bậc lương y làm kim chỉ nam cho cuộc đời, thế mà không hiểu tại sao cháu bé lại Mệnh vô Chính Diệu?
Theo ông, đó là một điều hết sức phi lý, vì sách thường bảo rằng những người có Mệnh Vô Chính Diệu đều thường là con thứ, hoặc mẹ là vợ lẽ, nàng hầu.
Tôi đã nói với BS Hiển rằng: sách thường chỉ nêu những nét đại cương, còn người xem số phải đem kinh nghiệm ra đối chiếu và tham bác ngõ hầu tìm ra được một sự thật tương đối.
Kế đó, tôi có kê ra những lá số Tử Vi Vô Chính Diệu, mà người có số như thế đều:
1- Không phải là con thứ.
2- Không phải là con thứ thiếp hay nàng hầu.
3- Cũng vẫn khá giầu, có địa vị và thọ gần 70 tuổi.
Đó là trường hợp của một cụ sanh năm Mậu Tý (sanh năm 1888) và mất năm 1955, thọ được 68 tuổi, có 10 con, 5 trai và 5 gái, người nào bây giờ cũng khá giả cả.
Cụ sanh năm Mậu Tý, tháng 3, ngày 30, giờ Thìn, Mệnh Vô Chính Diệu tại cung Tí, có Đồng Âm cư Ngọ và Cự Nhật cư Thân chiếu vào Mệnh cùng với Tả Hữu và Xương Khúc.
Lá số Mậu Tý:
Như thế, Mệnh vô Chính Diệu đâu có “phi yểu tắc bần”. Cụ này lại là con đầu của
một gia đình trung lưu. Nhờ được cụ thân sinh thức thời, khéo uyển chuyển để
thích nghi với tình trạng đất nước vào những năm đầu của thế kỷ thứ 20. Cụ Mậu
Tý vào năm 1910, năm cụ 22 tuổi, đã bỏ bút lông, chuyển sang học quốc ngữ và
Pháp ngữ, nên khi chế độ thi cử bị Chính phủ Bảo Hộ bãi bỏ vào năm 1918 tại Bắc
Việt để:
“Ông Nghè ông Cống cũng nằm co,Ước gì đi học làm ông Phán
Tối rượu sâm banh, sáng lại sữa bò”
Thì ông cụ Mậu Tý đã nghiễm nhiên làm một “Chef Comptable” tại một hãng buôn lớn ở Hải Phòng, có lương cai, bổng hậu, tậu được mấy cái nhà lớn, cùng nuôi được con học đến đại học!
Nhưng, nếu Cụ Mậu Tý Mệnh Vô Chính Diệu này chỉ là trung phú, và gần thượng thọ, thì lá số sau đây mới chứng minh được một cách thật rõ ràng rằng Mệnh Vô Chính Diệu mà vẫn đại phú quý và đại thọ. Tôi muốn nói đến lá số của một nhân vật đương thời tại Sài Gòn, mà hầu hết giới trí thức và giới sinh viên Luật Khoa đều biết đến. Đó là giáo sư đại học Luật khoa Vũ Quốc Thông có bằng Thạc Sĩ. Giáo sư Thông đã từng làm Bộ trưởng Bộ Y Tế thời cố Tổng Thống Ngô Đình Diệm, làm chủ tịch Tham Chánh Viện và Hội Đồng Quốc Gia Giáo Dục. Ông năm nay mới 56 tuổi, chữ “đại thọ” mà tôi dùng ở trên là chỉ việc hai cụ thân sinh hiện nay còn đại đường và đã trên 80 tuổi, chữ “đại quý” là để chỉ ông là anh của giáo sư Thạc sĩ Vũ Quốc Thúc, người vừa rời bỏ chức Quốc Vụ Khanh đặc trách Kinh Tế, Tài Chánh, và là thân phụ của 3 người con, mà một đã đỗ Dược Khoa, Tiến sĩ và một sắp học xong Y Khoa…
Đấy, một người bằng cấp cao như thế, gia đình như thế mà Mệnh vô Chính Diệu thì đủ cho quý vị độc giả thấy rằng không một câu “Phú” nào trong khoa Tử Vi Đẩu số cũng có giá trị tuyệt đối cả.
GS Vũ Quốc Thông sanh ngày 22 tháng 11, năm Đinh Tỵ, giờ Tý.
Lá số:
“Mệnh Vô Chính Diệu đắc tam Không hữu song Lộc, phú quí khả kỳ” tức là Mệnh không có Chính tinh tọa thủ cần phải có tam Không thủ và chiếu, lại cần có cả hai sao Lộc Tồn và Hóa Lộc thủ hay chiếu nữa mới có thể một ngày kia được giầu sang hơn.
Căn cứ vào câu phú này, tôi thấy GS Thông có được:
1- Nhị “không” tọa, chiếu là:
Tuần không ở hai cung Tí, Sửu và Thiên Không ở cung Thiên Di chiếu thẳng vào Mệnh, tức là ông được cách Mệnh Vô Chính Diệu đắc nhị Không. Cái “không” thứ ba là Địa Không, mà trên lá số này, đóng ở cung Hợi, cung Huynh Đệ, giáp Mệnh, có người lại cho rằng trường hợp của GS Thông lại còn tốt đặc biệt, vì “chính bất như chiếu, chiếu bất như giáp”.
(theo thiển ý STK phần này có vẻ gượng ép. Thiên Không ở đây TVUD không dùng)
2- Song lộc triều viên
“Thân vinh quý hiển” nghĩa là Mệnh cung có Lộc Tồn và Hóa Lộc chiếu vào thì cuộc đời đỗ đạt lớn và làm nên sự nghiệp vẻ vang.
Áp dụng câu trên vào lá số của GS Vũ Quốc Thông, tôi thấy ông tuổi ĐINH nên Lộc Tồn ở cung Ngọ, cung Thiên Di, chiếu thẳng vào Mệnh, mà cung Thiên Di lại có Thiên Đồng, Thái Âm đóng, và theo lối “Đinh Nguyệt, Đồng, Cơ, Cự” thì Hóa Lộc và Hóa Quyền đều ở Thiên Di chiếu Mệnh cho nên lá số Tử Vi của Giáo sư Thông đúng là được cách: “Mệnh Vô Chính Diệu đắc nhị Không, hữu song Lộc, phú quý khả kỳ”.
So với lá số tuổi Mậu Tý nói trên thì lá số này thua lá số của tuổi Đinh Tỵ ở hai điểm:
1) Chỉ có Tuần Không ở Ngọ, Mùi chiếu Mệnh.
2) Không có song Lộc tọa hay chiếu Mệnh.
Nếu nay cho Triệt cũng là một “không” lấy cớ là người ta thường gọi “Triệt lộ Không vong” hay Triệt Không thì lá số Mậu Tý được Nhị Không, dù không có song Lộc, nhưng cũng không thua lá số của GS Thông quá nhiều, bởi lẽ có Xương, Khúc, Tả Hữu chiếu Mệnh trong khi của GS Thông thì có Hữu Bật không có Tả Phù, có Văn Khúc không có Văn Xương.
Nếu tiếp tục thảo luận thêm thì tôi lại thấy như sau:
Khi cung Mệnh Vô Chính Diệu hay quá xấu phải căn cứ vào cung Thiên Di mà đoán.
Điều này quan trọng lắm, nhiều sách đã nói đến, và kinh nghiệm cá nhân cho biết đôi khi tôi chỉ nhìn cung Thiên Di không cần nhìn vào cung Mệnh, mà đoán gần trúng mọi việc chính.
Lá số của GS Thông tốt đặc biệt như thế là do cung Thiên Di có Lộc Quyền, có song Lộc, có Đào Hoa, Thiên Không đồng cung (thông minh) học giỏi là ở hai sao sau này, mà nhờ có song Lộc, có Hóa Quyền nên ông không hoạnh phát, ông đi học mỗi năm một lớp rồi dần dần tiến đến địa vị cao sang, mà ông có tài, có học nên sự giầu sang, phú quý của ông phải bền, chứ không lúc nổi, lúc chìm. Sở dĩ, tôi nói thế là tôi vừa nói theo các sao, lại vừa nói theo tướng mặt và chỉ tay nữa!. Về các sao tôi nghĩ, số ông cung Mệnh không ngộ Địa Không, và Địa Kiếp vì tôi thường thấy chỉ có những lá số Mệnh Vô Chính Diệu mà có Địa Không, Địa Kiếp mới lên một cách đột ngột, để rồi cũng xuống một cách quá bất ngờ.
Lại nữa, Không Kiếp tọa thủ Mệnh Viên, thì người đó không khỏe mạnh mấy. Đằng này, nhờ là sanh giờ Tý, mà Mệnh đóng tại cung Tý nên GS Thông người trông thật phúc hậu, đẫy đà với đôi má dày, tức nơi Địa Khố sung mãn, tức là số giàu có lớn.
Bây giờ chỉ còn xét xem GS Vũ Quốc Thông sẽ thọ được bao nhiêu?
Trước hết, nếu hai cụ thân sinh ra giáo sư đã trên 80 tuổi mà còn đại đường, thì GS cũng hi vọng được thọ lắm. Tôi xin đan cử một tỷ dụ để chứng minh rằng Mệnh Vô Chính Diệu không những là đại phú, mà còn đại thọ, hay thượng thọ nữa.
Cách đây hơn 10 năm, ở Sở thú tôi đã được gặp một ông cụ đầu râu tóc bạc, cho tôi mượn quyển sách Tử Vi bằng chữ Hán, trong đó có ghi một lá số Vô Chính Diệu thọ đến 92 tuổi.
Đó là lá số tuổi Đinh Hợi, tháng 9, ngày 20, giờ Dần. Mệnh lập tại cung Thân, Vô Chính Diệu, có Cự Nhật ở cung Dần và Đồng Âm ở cung Tý chiếu lên, “hư không chi địa”.
Lá số:
Vì thế, đến năm 1964, khi sang Đài Loan, tôi có đem ra bàn với các bạn đồng nghiệp tại Bộ Giáo Dục của T.H.Q.G, thì được biết đó là lá số của Tử Vũ mà phú Thái Vi có viết:
“Tử Vũ tài năng, Cự tú, Đồng Lương xung thả hợp”
Ông Tử-Vũ có tài vì Mệnh vô Chính Diệu ở cung Thân, có Cự Môn, Thái Dương (chứ không phải là Qủa Tú như có sách đã giảng) và Đồng, Âm. Cơ Lương chiếu, cùng với Tả, Hữu, Khoa, Quyền, Lộc. Số Đinh Hợi này thọ đến 92 tuổi là nhờ :
– Không có Điạ Không, Địa Kiếp chiếu vào Mệnh, Thân.
– Có Thanh Long ở cung Thìn hợp với tuổi Đinh, đi cùng Hóa Kị ở cung Dần chiếu vào Mệnh. Nhân dịp này tôi xin nói thêm rằng Cụ Ba La , rất thích những lá số “Thanh Long Thìn Thổ, Đinh Kỷ Âm Nam, gia hội Kỵ tinh, công danh toại mãn”. Cụ Ba La thường chỉ cho tôi biết là chỉ một cách này là đủ để giảng sự giàu sang, phú quý và thượng thọ của lá số tuổi Đinh Hợi.
Giáo sư Vũ Q. Thông cũng tuổi Đinh Hợi cũng có Thanh Long ở cung Thìn, lại có Hóa Kị ở cung Thân chiếu vào Mệnh như lá số tuổi Đinh Hợi nên tôi chắc GS Thông vừa về lá số, vừa về truyền thống gia đình, ắt cũng sẽ được sống lâu, giàu bền như Tử-Vũ.
Lời giải đoán trên cũng là sự trả lời những thắc mắc của BS Hiển cũng như những ai có lá số Mệnh Vô Chính Diệu.
Theo tuvilyso.org
Thứ Sáu, 3 tháng 10, 2014
Chuyện Tử Vi
|
Lá số
Đoàn Nhữ Hài
Đoàn Nhữ Hài là học trò trường Quốc Tử Giám. Vào
niên hiệu Hưng Long thứ 6 đời Trần Anh Tôn (1298), tức năm Mậu Tuất, hoặc
(1299) Kỷ Sửu. Một hôm ra chùa Một Cột chơi, gặp thầy Tử vi. Hài xin xem
giùm vận mạng Thầy hỏi :
- Cậu sinh năm nào?
-Tôi tuổi Kỷ Mão,
tháng 9 ngày mồng 1, giờ Mão.
-Mệnh cậu lập tại mùi, xương, khúc, kình miếu địa thủ mệnh. Lại được Nhật mão, Nguyệt tại hợi tịnh minh chiếu, thêm cách giáp Quang, Quý. Đây lÀ cách của đại thần phò tá Đế Vương. Năm nay Đại hạn của cậu ớ Tị (chú thích: khởi đại hạn từ Huynh đệ?) có Hình, Tang, Cơ, Mã được Nguyệt chiếu. Tiểu hạn ở Thân, ngoại triều có Tham Vũ, Tướng, Quyền, Lộc, Tả, Hữu tất thành đại hỉ sự, đại hỉ sự sẽ đến một cách bất ngờ. Khi cậu bị ngựa đá hoặc cắn thì là khi công danh tới đấy. Hài mừng lắm trở về lo học hành, tháng sau trong kỳ thi khảo hạch của trường Quốc-tử giám, Hài bị trượt vì văn ngông nghênh, kênh kiệu quá bài của Hài bị đánh trượt vì ngông nghênh quá. Hài tức lắm, ra chùa Một cột tìm thầy Tử vi để đập tráp vì tội nói láo. Nhưng thầy Tử vi phân trần: -Tôi chỉ nói năm nay cậu có hỉ sự, tôi đâu có nói cậu thi đậu? Đây tôi cho cậu biết: ngày 13-6 này cậu sẽ gần Thiên Tử. - Nếu đúng như lời thầy thì tôi sẵn sàng nghe lời dạy bảo. -Thế thì tốt quá. Ngày 13-6 này cậu còn hoạnh phát tài nữa. Vậy cậu phát bao nhiêu xin cho tôi một nửa. Sau này ở địa vị cực cao quý, cậu phải thương yêu muôn dân. Hài đồng ý, về nhà. Đến đúng ngày 13- 6 không thấy gần vua như thầy Tử vi nói. Hài xách gậy đi tìm ông thầy đánh về tội nói láo. Trên đường đi, Hài bị một người cỡi ngựa đụng vào té văng dưới đất. Người đó vội xuống ngựa đỡ Hài dậy xin lỗi rối rít. -Tôi đi vội quá lỡ đụng tiên sinh. Xin tiên sinh bỏ qua cho. Hài nhìn người đó thấy mặc quần, áo lót đội mũ phía sau ra phía trước. Chân đi bên phải sang bên trái, coi vẻ hốt hoảng. Hài bực mình hỏi : -Nhà ngươi đi đâu? -Tôi đi tìm cha tôi Nguyên đó là nhà vua Trần Anh Tôn. Hôm đó vua uống rượu say mê mệt. Nhân tôn hoàng thượng bất thần về kinh, thấy con say, giận lắm để cây gậy thiên trượng lên mông nhà vua ngụ ý đánh đòn, rồi bảo các quan về Thiên Trường họp. Lúc tỉnh rượu, Anh Tôn được cung nga, thái giám kể lại, sợ quá chụp mũ đội lên đầu. Trong lúc vội vàng, mới đội phía sau ra phía trước, quên cả mặc áo ngoài, đá chân nọ sang chân kia và đụng phải Đoàn Nhữ Hài. Vua hỏi: -Tiên sinh là ai? -Tôi là Đoàn Nhữ Hài, học trò trường Quốc Tử Giám. Tôi đang buồn vì thi trượt đây. -Tiên sinh biết chữ chăng? Hài bực tức : - Nhà ngươi điên chắc? Ta đã chuẩn bị thi Thái học sinh, thì phải thông Bách gia, Chư tử, Cửu lưu, Tam giáo, lẽ nào không biết chữ? Vua Anh Tôn vẫn nhũn nhặn: - Tiên sinh làm dùm ta bài biểu tạ tội với phụ hoàng ta, rồi ta bảo quan Quốc tử giám tư nghiệp cho tiên sinh đậu. Năm sau thi Thái-học sinh tôi sẽ lấy tiên sinh đậu Trạng nguyên, được chăng? Đoàn Nhữ Hài vẫn chưa biết là vua, quát lên Nhà người điên chắc? Muốn rụng đầu chăng? Nhà ngươi có biết rằng chỉ có một người được phép lấy trạng nguyên không?
-Nhà ngươi là ai?
Vua Anh Tôn đáp : - Tôi là vua Đoàn Nhử Hài nhìn lại mũ người đó, thấyquả là vua, vội thụp xuống đất tạ tội. Người cỡi ngựa chính là vua Trần Anh-tông. Nguyên sau khi chiến thắng Mông-cổ, năm 1293 vua Trần Nhân-Tông nhường ngôi cho con là vua Trần Anh-Tông rồi đi tu. Vua Anh-Tông thường hay rượu chè say sưa. Nhân một hôm uống rượu Xương-bồ say quá nằm ngủ, thì Thượng-hoàng từ Thiên Trường về Thăng-long. Các quan trong triều không ai biết cả. Nhân-Tông thong thả xem cung điện từ giờ Thìn đến giờ Tỵ. Thái-giám dâng cơm. Thượng-hoàng không thấy vua đâu hỏi thái-giám. Thái-giám đánh thức vua dậy, nhưng vua say quá không tỉnh được. Thượng-hoàng giận quá bỏ về, lệnh cho các quan về Thiên Trường họp, có ý truất phế Anh Tông. Đến giờ Mùi, Anh-tông mới tỉnh dậy, cung nhân đem việc ấy tâu. Vua sợ quá không kịp mặc áo, nhảy lên ngựa chạy tới chùa Từ Phúc, thì đụng phải Đoàn Nhữ Hài. Hai người xuống thuyền về Thiên Trường. Dọc đường Đoàn Nhữ Hài làm tờ biểu dài hai ngàn chữ tạ tội. Nhưng Thượng-hoàng vẫn còn giận, không cho vào. Hai người phải quỳ ở ngoài. Các quan liếc mắt nhìn tờ biểu, thấy văn hay, truyền nhau đọc. Thượng-hoàng nghe được hỏi: - Văn ở đâu mà hay như vậy? Các quan tâu rằng đó là bài biểu tạ tội của vua. Thượng-hoàng truyền: - Đưa vào đây! Ý ngài muốn nói rằng đưa bài biểu vào, nhưng các quan hiểu lầm đưa cả Vua và Đoàn Nhử Hài vào. Thượng-hoàng thấy sự đã rồi, đành tiếp biểu xem, thấy lời văn điêu luyện, thống thiết, bèn xá tội cho vua Anh-Tông. Ngài phán rằng: - Ta đang cần một thiếu niên anh tài phụ tá cho con ta. Nay gặp tiên sinh ở đây thực là may mắn.
Hài trình việc gặp hòa thượng ở chùa Diên-hựu,
được hòa thượng đoán trước sự việc. Thượng-hoàng phán:
- Khoa Tử-vi do Hoàng Bính truyền sang Đại-Việt, khoa này đâu có truyền ra ngoài dân dã? Hòa thượng xem Tử-vi cho tiên sinh đó là sư phụ của ta, tức Tuệ-Trung Thượng-sĩ đó (tức Trần Quốc Tung). Hài nghe xong hoảng sợ, nghĩ hôm trước nếu mình gây với hòa thượng thì bị ốm đòn rồi. Bởi Tuệ-Trung là một võ học danh gia đời Trần. Thượng-hoàng hỏi số của Hài. HÀi than dài: - Không biết thân có ân phước gì mà gặp toàn những bậc Thánh chúa, Thánh tăng chỉ đường, chỉ lối vậy? Thượng hoàng nói : -Chẳng qua là số. Số tiên sinh cung Nô có Tham, Hồng, Đào, Quyền, Tả nên gặp may, duyên kỳ ngộ mà gặp chúa. Số của tiên sinh là số của bậc tể thần. Sau này làm nên sự nghiệp hiển hách. Nhưng tiếc rằng Đào, Hồng cư Nô, thì thế nào cũng xảy ra một chuyện bất chính trong tình trường, lại thêm Tham, Hình nữa thì thế nào cũng vì má đào mà sự nghiệp tan vỡ, chết vì nghiệp tình, đáng tiếc thay. Vua Anh-tông tâu rằng: - Thần nhi nghe nói căn cứ vào khoa Tử-vi có thể cải được số mạng. Thỉnh cầu phụ hoàng có cách nào cứu được Đoàn tiên sinh không? Thượng-hoàng bèn xé từ bìa kinh Kim-cương viết mấy chữ “Tứ đại giai không, miễn tử” trao cho Đoàn Nhữ Hài. Tứ đại Giai không là chữ lấy trong kinh Kim-cương: “Vô nhân tướng, Vô ngã tướng, Vô chúng sinh tướng, Vô thọ giả tướng, tứ đại giai không”. Nghĩa là không có hình tượng của người, của ta, của chúng sinh, không có cái gì lâu dài cả. Bốn cái đó đều là hư ảo.. Thượng-hoàng phán: - Ta xem số thấy cái vạ vì má đào của tiên sinh sắp tới. Nay ta trao cho tiên sinh mảnh giấy này, khi bị nạn, có thể dùng nó để cứu mạng. Muốn giải cái nạn Hồng, Đào, Hình, Tham thì phải dùng đến Quyền. Nay ta viết chữ miễn tử tức là dùng Quyền rồi, phụ với Hóa-quyền đóng chung ở Tham-lang nữa. Muốn giải hạn Thiên-hình thì dùng đến Không-vong. Ta dùng bìa cuốn kinh Kim-cương, tức là dùng cái Không của đạo Phật. Như vậy mong có thể cứu được tiên sinh. Trở về Thăng-long, vua Anh-Tông phong cho Đoàn Nhữ Hài làm Ngự-sử trung tán, đây là lần đầu tiên một người không đậu đạt gì, mới 20 tuổi được phong làm Ngự-sử trung tán. Người thời đó ghanh ghét làm thơ giễu Hài như sau: Phong hiến luận đàm truyền cổ ngữ, Khẩu tồn nhũ xú Đoàn trung tán. Có nghĩa là: Ôn câu cổ ngữ tại đài Ngự sử. Miệng của Trung-tán Đoàn Nhữ Hài còn hôi sữa.
Sưu tầm
|
Giai thoại Tử Vi
Lá số
Huệ Túc Phu Nhân
Huệ Túc Phu nhân là con út của Tống triều
di thần Hoàng Bính, huý là Thủy Thiên . Khi Hoàng Bính tiên sinh còn làm quan
tại triều Tống, thì phu nhân của tiên sinh đã sinh năm người con trai mà chưa
có người con gái nào. Phu nhân thường than thở ước ao có được một người con
gái. Tiên sinh có nói rằng :
Ta nhất sinh khảo về Tử Vi thấy cung Tử tức có Lương Nhật tại Mão cung ngộ Khoa, được Thái Âm ở thiên môn chiếu sang, Lương Nhật thuộc Nam đẩu tinh tại nội mạnh hơn Nguyệt ở bên ngoài chiếu, thành ra sinh năm con trai liền . Nhưng Mão là âm cung, thêm Nguyệt chiếu thì thế nào cũng sẽ có một nữ tử quý lắm . Hạn của ta cũng như phu nhân, năm tới đều có số sinh con gái . Như thế thì phu nhân khỏi mong ước lâu . Một đêm, tiên sinh ngồi đọc sách tại thư phòng ,bỗng thấy một người con gái tú lệ khác phàm xộc đi vào trước sân nhà, tiên sinh bèn hỏi : -Nàng kia là ai mà dám xông vào thư các của ta ? Nữ nhân quỳ xuống ôm mặt khóc : -Thưa đại quan, tôi bị tác oan . Tôi tên là Thủy, vốn là con của một nho sinh, khi đi qua khúc sông ngoài Tây thành bị tên phú hào tên Ngô Phượng cưỡng bức . Tôi cắn lưỡi tự vẫn để khỏi ô danh thất tiết . Nó bỏ xác tôi xuống đáy sông, cạnh cây phong ba chạc, xin đại quan soi xét . Tiên sinh phán: -Nàng đi cùng ta đến gập quan địa phương . Nữ tử chạy lại ôm lấy chân của tiên sinh . Tiên sinh giật mình tỉnh giấc mộng, coi lại là giờ Sửu . Tiên sinh bèn gọi kẻ tùy tùng gióng ngựa ra Tây thành . Đi đến khúc sông có cây phong ba chạc, sai tùy tùng xuống mò, qủa nhiên thấy xác chết còn tươi của người con gái tên Thủy trong mộng . Tiên sinh bèn truyền gọi quan địa phương đến giao cho điều tra . Tên Ngô Phượng bị bắt, khảo, xưng hết, bị án trảm . Tiên sinh sai liệm xác Thủy, chôn cất tử tế bên sông . Trên mộ có đặt tấm bia, thủ bút bốn chữ TRINH LIỆT THUẦN CHÍNH . Đêm đó khi về đến nhà tiên sinh mộng thấy Thủy đến qùy lạy : -Tiểu nữ muôn tạ đại quan, nguyện xin đầu thai để báo đáp công ơn . Sau đó thì phu nhân của tiên sinh thọ thai . Năm Tân Dậu, tháng ba, giờ Dần, ngày 24 phu nhân sinh được một bé gái, tú lệ khác phàm . Đặt tên là Thủy Thiên. Tiên Sinh bấm số than : -Cung số của ta, Thân tại Di cung ngộ Tham, Quyền, Đào, Hồng, Khôi . Sự nghiệp viên thành ngoại xứ . Số phu nhân ta Thân cư Phu Quân, thì đương nhiên bôn ba theo ta rồi . Trong năm con trai, người nào cũng Thân tại Di cung đến Thủy Thiên Thân cư Quan lộc ngộ Nhật, Tả, Khoa, Quyền, Khúc, Việt, quá tốt Như vậy thành danh nhờ ta và chồng nó sau này . Thế thì cả nha ta phải xuất ngoại mới thành danh . Ta trộm xem số của Hoàng thượng cùng chư Vương, Thái tử, Tam công, Cửu khanh, thấy vận cùng cả rồi, chắc là không khỏi vong quốc . Âu là ta mang cả tộc thuộc Nam di để khỏi nhìn thấy quốc phá . Phu nhân hỏi : -Số của đứa gái này tốt chăng ? Lớn lên đẹp chăng ? Tiên sinh đáp : -Đẹp lắm, “ Nhật Nguyệt, tinh minh hợp chiếu hư không, cư trung Khôi, Hồng, nam tất vi tể tướng, nữ tất đắc quý nhân sủng ái . Lại hỏi : -Học có giỏi chăng ? Đáp : -Thông minh gấp mười phu nhân, gấp hai ta . Vì được cả bộ Tả, Hữu, Xương, Khúc, Khôi, Việt, Đào, Hồng, Khoa, Quyền, Lộc . Hỏi : -Có gì xấu chăng ? Đáp : -Ngặt vì Cơ, Nguyệt, Hỉ, cư Thiên Di, ngộ Hữu, Xương, Kị, Đà . Cơ, Xương ngộ Kỵ thì văn tài xuất chúng . Có Hữu, Hỷ thì may thêu đều giỏi . Song Đà, Kỵ thì danh không hiển được . Mùa xuân tháng Giêng, niên hiệu Nguyên Phong thứ 7 đời Trần Thái Tông (1257) Tiên sinh cùng gia tộc 1200 người tới biên ải xin lập nghiệp tại An Nam .
Thái
Tông được tin báo, đón về Kinh cho tạm trú tại An ấp . Tháng 6 Thuỷ Tiên tiểu
thư tiến cung, được phong Huệ Túc Phu Nhân . Khi phu nhân nhập cung thì từ tư
thái, ngôn ngữ, cư xử khác phàm . Từ hoàng hậu đến cung nga, thái giám không
ai mà không nể phục .
Sưu tầm
|









.jpg)














