Thứ Sáu, 14 tháng 2, 2014

phượng hồng


                                          

Chút tình đầu
( trích thơ Đỗ Trung Quân)


………………………….
………………………….
Mối tình đầu của tôi có gì:
Chỉ một cây đàn nhỏ
Rất vu vơ nhờ bài hát nói giùm
Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu
Nên có một gã khờ
Ngọng nghịu mãi…thành câm.

        Bài thơ này được nhạc sỹ Vũ Hoàng phổ nhạc, bài hát Phượng Hồng rất được phổ biến và được yêu thích. Vũ Hoàng đã đổi mãi… thành câm bằng đứng…làm thơ nghe lãng mạn hơn. Vì nói trực tiếp không được phải mượn thơ nói, phù hợp ý câu nhờ bài hát nói giùm. Nhờ nhạc nói chưa đủ, thì nhờ thêm thơ hổ trợ chứ sao lại phải câm. Ai hiểu được người câm nói gì nếu không hiểu được kí hiệu biểu thị ngôn ngữ của họ.

       Bây giờ chúng ta thử Tử Vi hóa sơ lược đoạn thơ trên nhé.

-     Tình đầu: Tướng Khôi. Khôi chủ đầu tiên, sau này thành xưa, thành cũ dễ thấy cảnh không rủ cũng đến nếu có thêm Phục Binh. Trường hợp Tướng Quân thì luôn có Phục Binh xung. Tướng Việt là tình mới, là phát sinh tình cảm, là khuôn mặt mới xuất hiện.

-     Cây đàn nhỏ: Tấu Thư Văn Xương. Xương là nghe, còn biểu thị sự xúc cảm, nên Xương Khúc có tính lãng mạn. Tấu Thư luôn có Kình Đà nên lúc thì cao bỗng, lúc thì trầm lắng.

-       Nhờ bài hát nói giùm: Xương (Khúc) Bạch Hổ. Bạch Hổ là tỏ bày, là cách nói có định hướng, nhưng cách biểu lộ này cũng hơi hãi. Nếu Xương (Khúc) Thanh Long thì thổ lộ nhẹ nhàng hơn. Có Tấu Thư càng phù hợp.( chú ý, Thanh Long không bao giờ gặp Tấu Thư, chỉ trừ hạn hành đi qua). Hay nhất là Thiên Tướng Hồng Thanh Xương Khúc, nghe mà mê hoặc.

-     Ai cũng hiểu chỉ một người không hiểu: đây là câu trở thành danh ngôn trong tình yêu, có ẩn ý trách móc hoặc tự trách móc mình. Vì sao em không hiểu điều ta muốn nói? Hay em giả lơ không muốn hiểu ?.
           Lưu Hà? Vì sao thế? Thiên Cơ là cật vấn, tra hỏi, thắc mắc. Lưu Hà là vì sao, vì cớ gì mà vương vấn (Lưu).
           Cơ Linh Hà Kị. Linh là hờn giận ngầm, Kị là nghi ngờ. Nghi ngờ giận hờn mà tra hỏi. Nên nhớ Thiên Cơ luôn lục hội với Thiên Tướng.

-     gã khờ: Thái Dương Bệnh Phù. Ngày mệt mỏi. Người đàn ông cảm bệnh. Còn chủ về người đàn ông không có lực. Trong bài này, gã khờ mà không khờ. Ta chỉ khờ trước đôi mắt khuynh thành của em thôi nên ta là nạn nhân của em đó. Nếu có thêm Hư ta đúng là kẻ quá khờ dại, vụng về để rồi phải tủi thân vì ảo tưởng.         

-     ngọng ngịu mãi…thành câm: đây là cách Phục Hình, tức là Phục Binh Thiên Hình. Chứ không phải Việt Toái Diêu là bệnh câm điếc. Phục Hình Hư Kị là ngọng nghịu , là hình ảnh mang tính lập đi lập lại mà không rõ ràng. Hình luôn có Diêu tam hợp. Có thể dùng Phục Đà Kị để diễn ý sự thiếu tự tin gây cản trở luôn tái diễn mỗi khi muốn nói, nên nhớ Phục Binh nằm trong tam hợp Thanh Phi Phục, có Thanh Long là tiếng nói.

      Cuối cùng thành câm hay là tình câm cũng thế, vì mượn cây đàn nói chỉ là hình thức thăm dò thôi. Đẹp đấy, hay đấy nhưng em nào có hiểu chứ! Nên em cũng câm luôn, để yêu thương thành cô quạnh đơn phương Tướng Cô Quả  và hình bóng em là kỉ niệm không phai tàn trong anh Hình Ấn Tồn Tướng, dẫu là tình Tướng Hư.


  Bài thơ không nặng tính đa tình diễm lệ, mà ngược lại rất lãng mạn dễ thương của tuổi học trò. Một chút tình đơn phương nhẹ nhàng. Nên hung sát tinh không có. Bài thơ kết hai câu rất xao xuyến, khiến lão đây mỗi lần đọc lại càng bùi ngùi  khó quên tuổi học trò của mình:

Em chở mùa hè đi qua còn tôi đứng lại
Nhớ ngẩn người tà áo lụa nào xa…
                                 
-   Cự Dương Đà: mang theo ánh nắng, hay cùng người đàn ông đi xa. Từ Ngọ là cung Ly biểu thị mùa Hè, ta thấy bộ Cự Dương Đà ở Dần. Hoặc Thái Dương cư Ngọ tam hợp Cự ở Tuất hai cung có Đà hội ở Dần cho tuổi Ất. Cách Cự Dương còn thấy từ cung Sửu, Mùi khi Tử Vi ở Tý Ngọ và Cự Tý Ngọ hội Thái Dương ở Thìn Tuất thấy từ Dần trong cách Tử Phá.
     Đà Dương: là theo người đàn ông, còn là ngày xuống, là nắng tà, ở Ngọ ý chỉ chiều mùa hạ. Bởi đâu đó, có lẽ trong em có hình bóng ai đó rồi.
     Cự Đà: mang theo ra đi, là cánh cửa đóng lại, là vẫy tay ly biệt, là khoảng cách giăng xa.

-   Dừng lại là Triệt. Triệt Tồn là không còn nữa. Ý câu thơ là em cùng mùa hè đi rồi, ngày tháng học trò qua rồi, tôi không còn gì nơi đây vì đã mất em, mất luôn chút tình câm thơ mộng.

-   nhớ ngẩn người: Tướng Quân Quốc Ấn, tam hợp với Lộc Tồn. Lời ủi an phủ dụ rằng em ra đi nhưng em vẫn còn trong tâm tưởng của ta, là ấn tượng khó phai nhòa.

-   tà áo lụa nào xa: Thiên Y Thanh Long hạn ngộ Thiên Hư, Lưu Hà. Tà áo xanh xuân, áo học trò nay chỉ còn là hư ảo, như dòng sông Lưu Hà trôi xa. (Thanh Long luôn có Phi Liêm tam hợp chủ bay đi ).


       Đầu năm nói chuyện tình , phải chăng tiểu hạn Liêm Tướng Việt Khôi nằm trong Đại hạn TPVTL, như số phận phải gánh nhận? Qua đây lão xin chúc quý thân hữu có một năm yêu thương tràn đầy.

Satrungkim





Thứ Năm, 30 tháng 1, 2014

chúc mừng năm mới






Thứ Tư, 15 tháng 1, 2014

thiên mã




NĂM NGỰA NÓI CHUYỆN THIÊN MÃ


Thiên Mã an theo năm tuổi
và chỉ ở 4 cung Dần Thân Tị Hợi


1-Ý nghĩa chung:
-Các phương tiện di chuyển như xe cộ, tàu bè, máy bay...
-Con ngựa. Các loài gia súc.
-Tứ chi tức là tay chân.
-Sức kéo, mã lực. Công sức. Sự đi lại.

2-Bạn cưỡi con ngựa nào?
Đừng tưởng Thiên Mã chỉ di chuyển bằng xe cộ mà thôi. Vì còn là tay chân nên đi bộ hoặc bò lê lết cũng là nó. Lá số nào mà chẳng có Thiên Mã. Một Mệnh THÂN Tật ôm Thiên Mã xấu như gặp Không Kiếp dễ có sự thiệt thòi về tay chân.

Một điều cần nhớ là Thiên Mã luôn gặp Tang Hư Khách. Kẻ giang hồ không có ngựa cưỡi như Djingo tay súng thần kì thì cũng bộ hành như hiệp khách thần kiếm, lâu lâu phi thân bay vèo cho đỡ mỏi chân. Ngày nay ôm Honda phân khối lớn lạng lách …giật đồ thiên hạ chơi…Suy cho cùng cái nào cũng có tốt có xấu. Có người cả đời chẳng dám tự cầm cái ghi-đông xe đạp chớ nói chi một mình đi xe máy; có người tưởng cái lề đường luôn an toàn nên thích cuốc bộ tà tà. Thế mà, “bùm” một cái đời đi toong cũng vì xe cộ. Cái nghiệp yên hùng như các cô cậu Mã Hỏa cũng vậy thôi, có ngày sẽ được nằm xe còi hụ cũng không còn hơi sức mà rên rỉ…

Dưới đây xin lược sơ một số Ngựa đáng chú ý:

-MÃ HỎA LINH: gọi là Chiến Mã.  Mã này có câu “Hỏa phần Thiên Mã bất nghi viễn hành”, ngựa ra chiến trường là đối mặt với nguy hiểm rồi. Ở thành phố nghe xe hú còi ưu tiên thì một là xe cứu hỏa hai là xe cứu thương, dù đang đi ta cũng phải khẩn cấp nhường đường, nếu không, ta dễ theo Hỏa Mã về phòng cấp cứu ngay.
Mã Linh là tay chân nhanh nhẹn; là ngựa mang lịnh khẩn nên phản ứng nhanh. Tuy thế tránh gặp Kình Đà vì dễ bị thương tật.

-MÃ KÌNH ĐÀ:
Mã Kình: chống bằng tay chân; cũng là ngựa chiến. Kẻ trên ngựa. Ngựa chạy trước.
Mã Đà: Ngựa chạy sau. Xuống ngựa. Theo ngựa chạy loanh quanh. Bôn ba, vất vả…

-MÃ KHÔNG KIẾP: nạn về xe cộ, tay chân như bụp nhau, mất xe, chạy xe bị cướp. Công sức bỏ ra nhiều nhưng thu lợi ít. Xe lậu nếu thêm Hình Kị.

-MÃ TUẦN TRIỆT:
Mã Tuần: ngựa chạy lòng vòng. Về lối cũ. Đi tuần tra, bảo vệ…
Mã Triệt: ngựa trên đường. Dang dở.

-MÃ HÌNH: ngựa bị hành hạ. Dễ bị thương tích.

-MÃ DIÊU-Y: chạy xe mù quáng. Mê xe. Có dâm tính.

-MÃ KHỐC KHÁCH: có sách cho là tiếng nhạc ngựa; thực ra đây là khách đi đường kể lể, than thở điều gì đó. Ở đây có Phượng Các hội hợp nên dễ gây chú ý.

-MÃ BINH: phục vụ bằng tay chân, ví dụ nghề sửa xe chẳng hạn. Phục Binh có tính quân sự nên cũng hợp phục vụ trong quân đội.

-MÃ KỊ: người lính kị binh. Người cưỡi ngựa. Còn có ý là ghét làm việc bằng tay chân, không thích lao động tay chân.

-MÃ HƯ: xe cộ dễ hư. Tay chân vụng về. Tay chân dễ dị tật.

-MÃ HAO: tốn kém vì xe cộ. Tốn tiền do đi lại nhiều. Tốt là dễ mua bán xe.

-MÃ TANG: dễ té ngã. Xe tang. Xe chạy đường hẹp.

-MÃ LỘC: lợi cho đi lại mua bán. Xe chở tiền.

Phơn phớt thế thôi, muốn rộng hơn cần kết hợp thêm và luôn chú ý Hung Sát tinh thường bất lợi cho Thiên Mã. Và vì luôn gặp bộ Tang Hư Khách, các Chính tinh như Sát Phá Tham càng bất lợi, nên cần gặp Phương Các mới dễ chịu.


Năm Giáp Ngọ chú ngựa này về trú cung Thân, cung này có mỏ kim loại như…bô-xít, không chừng có vàng cũng nên. Đường lên mấy mỏ này chỉ là đường mòn nhỏ hẹp, ngựa đi không khéo là “sưng khớp” xấu nữa là “đai”.

Lối vào mỏ có bảng đề Lưu Tang Môn, anh chàng bước sâu vô một tí thấy ghi Lưu Phi Tang nghe rờn rợn trong mình rồi. Luồn lách vào gặp đường bít Triệt, với khoảng sáng Dương Kị Hư ảo ảo lạ kì tưởng là ánh vàng chấp chới, vội vàng chân Phi Mã hai tay lùa cào vào mình đống vàng mà thật ra là bụi…bô xít cặn…

Bên ngoài kia, có tiếng nữ khách dừng ngựa lên tiếng thở than Khốc Khách Phượng Thanh Triệt Mã:

Đau lòng kẻ ở người đi
Lệ rơi thấm đá, tơ chia rũ tằm
                 ( Kiều-Nguyễn Du)

Satrungkim






Thứ Bảy, 11 tháng 1, 2014

lời cảm tạ



LỜI CẢM TẠ



Gia đình chúng tôi vô cùng cảm tạ:

- Các Tổ chức Hội đoàn Tôn giáo và xã hội.
- Các Công ty, Doanh nghiệp.
- Quý Bà con Thân quyến nội ngoại gần xa.
- Quý  Bằng hữu, Thân hữu mọi nơi.  

Đã đến cầu kinh, chia sẻ, ủi an và đưa tiễn Chồng, Cha, Ông, Ông Cố của chúng tôi đến nơi an nghỉ cuối cùng là:

GIOAKIM
NGUYỄN NGỌC QUÊ

Sinh 10-01-1930 tại Quảng Trị
Ra đi lúc 20g10, ngày 05-01-2014 tại tư gia Xã Phạm văn Hai,
 Huyện Bình Chánh, Tp.HCM
Hưởng thọ 84 tuổi.

Sự chân tình của Quý vị là niềm an ủi lớn lao cho gia đình chúng tôi
Trong lúc tang gia bối rối khó tránh những điều sơ suất.
 Kính xin Quý Vị niệm tình lượng thứ.

Tang gia đồng cảm tạ

Quả phụ: Nguyễn Thị Để
Con Trai Trưởng: Nguyễn Ngọc Cẩn (satrungkim)
Và các con cháu.





Thứ Sáu, 6 tháng 12, 2013

HÓA KỊ



MÂY LANG THANG
(VIẾT VỀ SAO HÓA KỊ)


Mây, sao còn bay mãi không quay về đây?
Sao còn lờ lững che ngang rừng cây?
Sao còn hờ hững với tôi từng giây?
Hay còn mơ nghĩ đến ai nào đây?

Mây, xin dừng chân đến bên tôi một đêm
Xin đừng bay chốn môi hôn thật êm
Xin đừng nghe gió dâng lên thật cao
Xin đừng ân ái với muôn vì sao…

Đời tôi đã xót xa nhiều cũng vì yêu
Niềm thương nhớ biết đến bao giờ làm mây quên lãng
Chào mây nhé, mây bay về, về phía trời cao
Ôi niềm ao ước, mối tình tha thướt như làn mây lướt.

Mây, mây buồn mây khóc mỗi khi vào mưa
Hay là mây nhớ mối duyên tình xưa
Khi tình chưa biết đớn đau là chi
Khi dòng nước mắt chưa hoen vào mi

Mây, mây còn phiêu lãng đến bao giờ đây ?
Mây còn ngơ ngác lang thang về đâu ?
Xin dừng chân nói với nhau một câu
xin đừng câm nín vơi nhau dài lâu

Đây là một bài hát ngoại quốc, tiếng Pháp là “Toi” (đọc là toa), có nghĩa là anh ơi, em ơi...Lời Việt hình như của Nam Lộc. Nhưng thật ra đây là bài country Đồng quê Mỹ có tên là A cowboy’s work is never done của Sonny &Cher.

Thôi thì, theo lời Việt Mây lang thang cho đúng nội dung bài viết.

“Toi” hay Mây ẩn tàng một tên gọi, có thể là Vân, tác giả dùng hình tượng mây để biểu thị một cái tên, về một người với tính chất chuyển động trôi nổi thật tài tình. Em như mây phiêu lãng, bay hoài không mỏi sao cưng; tưởng đôi lần thành mưa sẽ không còn bay nữa, nhưng nước mắt chưa hoen vào mi, em chưa biết khổ đau là gì nên em còn bay vô tư. Ta thì ngước mỏi cổ nhìn em bay đi bay đến mà choáng váng, cũng muốn được bay theo em. Bài hát miêu tả tâm trạng tình cảm phức tạp nhưng nhẹ nhàng đầy tính nghi ngờ pha chút hờn dỗi, và rất lãng mạn.

Vậy em là ai rứa “Toa”?
-Anh ơi, em là Hóa Kị đây. Hay ho gì mà đụng vào em chứ. Đụng vào em dễ sinh sự lắm. Muốn níu em lại anh phải có Khoa, Quyền, hoặc Thanh Long, Lưu Hà. Lúc đó anh sẽ thành rồng bay trong mây ngũ sắc huyền ảo, là cơ hội cho anh làm điều kì lạ tuyệt vời, hai ta thành Long Vân hân hoan mở hội “Hàng Việt Nam chất lượng cao”.

-Anh chẳng có gì ngoài con Thiên Không cả, được không em?

-Ái chà, được quá đi chứ với điều kiện không thấy mặt thằng Địa Kiếp, có thằng này nguy hiểm lắm. Nếu thế, anh là bầu trời mênh mông còn em là mây, tha hồ phiêu lãng trong trời anh, cũng là không ghét em đâu, không cấm em, không nghi kị em  mắc chi em lại ghét anh.

-Anh sợ là…

-Sợ là em đây, Hóa Kị đây. Ai thấy em cũng sợ cả.

-Đừng nói thế.

-Đừng cũng là ả này đây anh ơi. Vì thấy em nên anh mới nói:
Sao còn bay mãi không quay về đây? Mây còn phiêu lãng đến bao giờ đây? Cơ Phục Hà? Sao em Đào Lưu hồ hải mãi. Tới hạn Phục Binh nhớ quay về nhé.

Sao còn lờ lững che ngang rừng cây? Lờ lững là Đà Hư, chìm không chìm nổi không nổi, y như giả đò chìm vậy. Che ngang là Đà Kị.

Sao còn hờ hững với tôi từng giây? Hờ hững, biểu tỏ tình cảm lạnh lùng đó là Linh Tinh, Linh Kị tôi ghét sự lạnh lùng ấy lắm.

Hay còn mơ nghĩ đến ai nào đây? Câu này đúng là nghi ngờ. Tồn Tướng Ấn, còn nhớ về ai đó. Nếu nghĩ tới mà thấy ghét, thấy cay đắng thì thêm Kị.

Xin đừng bay chốn môi hôn thật êm Cự Phi Kị, bay tới đó ghét lắm, vì ghen mà nói thế, êm ái nổi gì với cái môi Cự Kị chứ.

Xin đừng nghe gió dâng lên thật cao Linh Xương Đà Kị đừng nghe theo lịnh đó vì Linh Kị còn là lịnh cấm, như cấm hôn nơi công cộng, cấm đậu xe, cấm đổ rác. Xương Kị cũng là đừng nghe, nếu nghe chỉ toàn lời đố kị, kì quái, ganh ghét. Xương Khúc Kị cũng là cách giấy tờ rắc rối, nhiêu khê đóng con dấu thôi mà cũng hạch sách, photo công chứng cái CMND thôi mà cũng chờ cả buổi; nghe kiểu này ức chế dễ làm điều bậy bạ mà..chết, nên sách xưa gọi Xương Kị là yểu mệnh
 Miêu nhi bất tú Nhan Hồi,
 Văn Xương ngộ Kị uổng đời tài hoa.
Miêu nhi bất tú, lúa chưa ra hoa đã héo lá úa tàn rồi. Thật ra không dễ yểu thế đâu, nhưng gặp rắc rối mà buồn thúi ruột thì có.

Gió là gì ta? Cái không thấy nhưng biết có, đúng không? Thiên Hư được chứ? Vậy Xương Kị Hư là đừng nghe lời hư ảo mà sinh hư sự.

Xin đừng ân ái với muôn vì sao, anh tưởng tượng dữ quá thành ra câu này thật khó nói, nhẹ nhàng thì Tướng Quân hay Thiên Tướng ngộ Kị, cấm yêu, đừng yêu, thêm Đào cho nó thấm đẫm ái ân; đừng trao gởi chi cả, ta ghét cái mặt đó lắm rồi.

Đời tôi đã xót xa nhiều cũng vì yêu, Tướng Khốc, nước mắt vì yêu, có thêm Kị là tình oan nghiệt đắng cay. Vì yêu mà thành oán ghét, muốn khóc mà khóc không được càng oán ức thêm. Tình đớn đau mà có uất hận thù oán là thêm Địa Kiếp. Qua đây, hãy nhớ cho gặp Tang Kị   là ngày giỗ đó anh; có thể là chiếc khăn sô cho một cuộc tình Tướng Tang Kị, một ai đó  mất, hoặc là ngày giỗ chạp của mình.

-Ghét em ghê.

-Thấy em tức là thấy ghét rồi. Em đi đâu người ta cũng sinh lòng ghen ghét, khiến em phải ghét lại. Thấy mặt em là người ta nhăn nhó như bị bao rồi. Người ta gọi em là đồ ám khí, ám tinh, thứ gây trắc trở, cản trở, cắn em một phát miệng ngậm đắng cay, em chỉ có hung họa, nhất là khi em mê si theo ai đó, hoặc ai mù quáng theo em liền bị gọi là Diêu Đà Kị, vì có em mà đời họ chìm lĩm trong bóng tối u mê, làm như em có bùa yêu không bằng.

Em là hình ảnh của nghi ngờ đố kị, của sự sai phạm, sai luật. Hình Kị là hình ảnh bất kì gã chính tinh nào cũng sợ, từ ông vua cho đến phó thường dân. Ôm bộ này nhẹ nhất là khắc khổ cực hình do bị hành hạ, nếu là con cái thường bị hình phạt roi vọt, học sinh thì dính điểm 0 còn bị phê vô lễ, vô giáo dục. Vợ chồng thì thấy trên giường sẵn sàng tờ ly hôn li dị. Quan chức dễ dính  hai chữ “duyệt, vào nhà đá”.

-Em nói khiếp quá!

-Đó, đó!! Khiếp cũng là em nhé! Khiếp hãi, kinh sợ, khiếp sợ, ghê quá, ớn lạnh quá!  Các từ tương đương như thế. Nên ghét ra mặt là Triệt Kị đó. Bộ này hãi lắm, nhất là mấy lão Tử Vi, Thiên Phủ, Thiên Tướng rất sợ. Lộ ra sự ganh ghét. Ghét mà bị bỏ, bị phế, bị cắt chia…vì coi thường điều cấm kị.

-Anh muốn…

-Muốn yêu em dài lâu chơ gì? Không được đâu. Liêm Tướng yêu dài lâu gặp Kị em đây là cái dài lâu ấy cực hình lắm; tù tội dài lâu thì có. Cô gái Liêm Kị khắc nghiệt lắm, yêu ai dễ hành hạ nhau lắm. Chữ trinh đáng giá ngàn vàng còn đâu anh ơi là anh.

-Không lẽ em chẳng yêu ai được sao?

-Có chứ nhưng phải có bằng Hóa Khoa, hoặc Quyền uy tín, và Cát tinh mới được. Như Vũ Kị là kì tài. Cơ Kị là khéo tay tài giỏi. Lương Kị là may mắn kì lạ. Đồng Kị là thần đồng. Tử Vi Kị là huyền bí kì ảo.
   Còn mấy lão Sát Phá Tham hoàn tòan bất lợi. Này nhé, Sát Kị sai lầm đố kị, ghét mà giết, giết lầm hơn bỏ sót. Phá Kị thường hát bài “Đừng bỏ em một mình”. Tham Kị tham lam đố kị, ham hố bị trách là tham lam kì quái. Nhiều ý lắm, tùy tình huống mà diễn thôi.

Các tuổi bị Kị biến hóa chới với:
Giáp: gã Dương Kị công khai đáng ghét, bị đàn ông ám. Ngày u ám, thấy là ghét, nên giương con mắt không nổi.
Ất:  Âm Kị bị bà ám. Đêm ám mộng nàng Hằng Nga móng nhọn đâm vào tim.
Bính: ả Liêm Kị theo dõi, moi móc, ả này thích dấu còng số 8 trong túi xách.
Đinh:  mụ Cự Kị lải nhải bài “Biệt ly, nhớ nhung từ đây, nhà này phải chia cho tui 100 cây”.
Mậu: anh chàng Cơ Kị khéo giỏi mà cũng đáng ghét vì cái gì cũng thắc mắc, đánh dấu hỏi. Lợi dụng cơ hội.
Kỷ: Khúc Kị loại cấm thư, thơ văn có tính phê phán. Đoản khúc lạ lùng.
Canh: Đồng Kị đứa bé lạ kì ta mong muốn nhưng chắc gì có. Vì tui ghét con trẻ đi chung lắm.
Tân: Xương Kị tiếng đàn mê hoặc, lẳng lơ gọi mời. Đàn bà con gái chớ nghe đờn Cò (ca dao) nhé. Kẻo lòng mềm yếu, mụ mẫm mà sinh bệnh hoạn.
Nhâm: chàng Vũ Kị kì tài đến kì quái. Như Hitler nhếch bộ râu mép cả thế giới điêu đứng.
Quý: gã Tham Kị ham vui, ham ăn mà bị ghét. Thưa bác sĩ, chút bì thư nhỏ mọn này để bồi dưỡng cho ngài uống nước giải khát, ừa, thế là ngài nhanh chóng tìm kiếm, thăm dò xem con vi trùng, vi khuẩn nào trên người bệnh nhân đang thoi thóp đã mấy hôm…

- Em ơi, anh thấy em đâu đến đỗi tệ. Vậy Hóa Kị nào đáng sợ nhất hả em?

-Anh cẩn thận ghê! Né nổi không đó? Này nhé: Kị Hình, Triệt Kị, Diêu Đà Kị, Tang Kị, Khốc Kị … như đã nói, các bộ sau đây cũng kinh lắm, nên né:

Đào Kị Kiếp: nghi kị mà tạo ra họa nạn. “Tham cư Đoài Chấn thoát tục vi tăng, Kị Kiếp lai xâm trần hoàn đa trái” tu cũng chẳng xong đành trở về trần tục kêu “ái, ái!!”

Kình Kị Hỏa: “Kình dương Hỏa Kị một bài, hãm mà thủ mệnh ấy loài ác tinh”.

Tuế Đà Kị: ngôn ngữ bất nghi (không tốt), nói lời cản trở có tính dụ dỗ. Thêm Cự Môn là “ Tuế Đà Cự Kị phận nghèo. Một thân lên thác xuống đèo không yên”.

Tồn Kị: cái này mang tính thị phi, ta thường nói “đồ trùm sò!” về người ích kỉ, keo kiệt hoặc là “đồ cứt sắt”. Bo của đáng ghét. Lượm cái gì cũng bỏ vào tủ cất.

Úi dà, mệt quá anh ơi! Anh bảo Xin dừng chân nói với nhau một câu. Xin đừng câm nín với nhau dài lâu. Thế mà em nói cả đoạn, cả bài rồi đó, hơn nữa em đứng lâu không yên. Em đi đâu nói nhiều dễ sinh nghi lắm. Có duyên hẹn lúc khác em trải lòng nhé, sợ anh nghe nhiều quá rối  rắm thêm.

 Suốt năm Quý Tị  này em tạm trú xứ Tham Lang, có bộ Kị Lộc chọc ghẹo, nhậu nhẹt, thách thức với chàng tham hám hạm ham chơi cho vui cũng chán rồi. Sang năm Giáp Ngọ, em hẹn lão Thái Dương chơi vài chiêu múa may giương oai, cho lão mù mắt chơi, em ghét cái ánh mắt dê xồm nóng hực như lửa cứ xoi mói cả ngày bực bội của lão lắm.

Thôi, anh dễ thương ơi! Chào anh nhé, mây bay về phía trời cao. Cự Dương, em Kị Phi… nhé!.

 Bái bai.








Thứ Bảy, 23 tháng 11, 2013

THIÊN DI TỐI KỊ...



“Thiên di tối kỵ Kiếp Không lâm vào”

 Đây là một câu phú mà hầu như chả ai luận bàn, chả ai giải thích. Vì chỉ nghĩ là Di có Kiếp Không thì đi ra ngoài gặp xấu, cẩn thận trộm cướp tai nạn thôi. Hoặc cho cung Di là đối phương, đối phương bị Không Kiếp thì dính gì đến mình. Nhưng thực ra câu này ẩn chứa nhiều điều quan trọng.

Tại sao không phải là cường cung nào khác như Tài, Quan mà lại là cung Di. Nếu Di không là mình thì chả cần đặt ra câu đó làm gì. Nếu Di chỉ là đi xa thì thời xưa người ta vốn ít hoạt động, chỉ quanh quẩn làng xóm quê nhà, hiếm khi đi xa nên cũng không cần chú ý. Di rõ ràng phải là cái gì đó rất quan trọng với chính ta thì mới mọc ra câu phú nhấn mạnh như thế.

Chỉ vì Di sự biểu lộ của ta trong tương tác với hoàn cảnh. Di là tất cả các hành vi, động sự, tạo tác, giao dịch giữa ta với môi trường.

Di bị Không Kiếp là có hành vi tạo ra cái tiêu cực đen tối cho hoàn cảnh, là khi động sự chỉ chực làm bậy, là gian lận lừa lọc để thủ lợi, hoặc chỉ đơn giản để cảm thấy hả hê thỏa mãn vì đã làm được việc xấu, đã ”thể hiện” được bản thân mình.

Di là bản thân lộ ra khi tương giao với hoàn cảnh, bị Không Kiếp tức là chính mình có nghiệp chướng, có cái bất ưng để thiên hạ đều thấy. Đó là kẻ có điều xấu bị bộc lộ, hoặc gặp tai nạn từ môi trường, đi ra ngoài gặp xui xẻo.

Di là cung Thân thứ hai của mình, bị Không Kiếp là tự mình xây tạo chồng chất các nghiệp xấu, là bị nghiệp báo từ những hành vi của mình ngay trong kiếp này. Nghiệp chướng có nhiều loại, có những kẻ cả đời làm bậy nhưng chả làm sao, vì quả báo ở kiếp sau. Còn Di bị Không Kiếp là ngay kiếp này sẽ phải trả nợ nghiệp tức thì.

Cung Di giống như một cái túi nhân quả ta đeo chặt bên người. Mỗi hành vi, mỗi hiện thực ta tạo ra đều rơi vào cái túi đó. Di là một tồn tại chủ quan gắn với Mệnh nên mỗi người đều có cái túi riêng khác cho dù cùng sống trong môi trường y hệt. Những gì rơi vào cái túi đó sẽ không bao giờ mất đi, nó luôn dính vào ta và chỉ lộ ra lúc này hay lúc khác. Các khoa cận tâm lý hiện nay đã chứng minh được sự tồn tại của trường nhân thể, trong cái trường đó có những khu vực lưu trữ tất cả các hành vi của chủ thể, đó như là cái túi nghiệp tự tạo của mỗi người.

Di bị Không Kiếp là tự mình bỏ vào cái túi của mình những chổi cùn, giẻ rách, bùn đất, cặn bã. Tưởng rằng thế là vứt bỏ vào ngoại cảnh, nhưng thực ra chúng luôn nằm ở đó, chính chủ thể đến lúc thò tay vào túi lấy ra dùng!

Từ tính nghiệp quả của cung Di, ta có thể giải thích được một vài câu thành ngữ cổ mà các loại Phật, Chúa, Thánh nhân hay dùng.

Chúa: ”Ngươi nhận được cái gì ngươi đã cho đi”. Chỉ bởi vì cho đi là bỏ nó vào cái túi cung Di của mình. Cho hoàn cảnh nhưng Thân ta cũng nằm trong hoàn cảnh, nên cho cung Di cốc nước thì nước ấy đến lúc chính mình lại uống.

Khổng Tử: ”Cái gì không muốn làm cho mình, thì đừng làm nó cho người khác”. Làm gì cho ngoại cảnh thì cũng là làm với mình, cái điều tưởng như đã đẩy sang người khác ấy nhưng một lúc nào đó nó lại xảy ra với ta. Khi ta tương tác với ngoại cảnh, nó sẽ có cách để ”trở về”.

Phật bảo “một nắm muối ném vào bát nước có thể khiến nước rất mặn nhưng ném vào dòng sông thì chả làm sao”. Bát nước và dòng sông đều có thể coi như cung Di, cái hoàn cảnh nơi mỗi cá nhân đang ngụp lặn chìm trong đó để bơi lội, tìm kiếm cái gì đó cho riêng mình. Nắm muối chính là Không Kiếp, Di tối kỵ Không Kiếp vì thiên hạ đa phần chỉ có bát nước nhỏ. Mấy ai có được dòng sông để vô hiệu hóa được độ mặn.

Di bị Không Kiếp là gặp phải bát nước mặn, hoặc tự thả nắm muối vào bát nước của mình, để đến lúc chính mình lại uống.

Suy ra một trong các cách cải số chính là bơm nước ngọt vào trong cái túi cung Di của mình, để lỡ chỗ nào đó có bị nắm muối Không Kiếp thì ta vẫn còn nước ngọt ở chỗ khác để mà dùng. Đây chính là nguyên lý của luật nhân quả. Cho đi chẳng qua là tự bỏ vào cái túi của mình mà thôi. Nếu ta có túi nước cung Di thật rộng, thật sâu, nghiệp không thể làm ta chết khát !

Phật luôn khuyên con người đừng ích kỷ vì như thế là tự làm hẹp cái bát nước của mình lại, khiến nó có thể sẽ trở nên mặn chát khi lỡ gặp Không Kiếp.

Việc coi cung Di có liên quan chặt chẽ với mình trong mối quan hệ nhân quả là điều hợp lý. Tử vi vốn xuất phát từ đạo giáo, nó thể hiện quan điểm của đạo giáo không chỉ trong các sao phúc thiện mà còn ở các cung nào đó, một trong số đó là cung Di.

Như vậy câu phú ”Thiên di tối kỵ Kiếp Không lâm vào” ẩn chứa những nội hàm sâu xa, không hề đơn giản để chả có gì cần giải thích như xưa nay thường quan niệm.

Di bị Không Kiếp thì độ xấu có khi chả kém gì lâm vào Mệnh Thân. Chính chủ thể sẽ tạo ra cái tật nghiệp bất ưng tồi tệ. Đó là kẻ rải đinh ra đường để vá xe, là đứng đường chặn xe để vòi tiền, là bệnh nhân đang cần cấp cứu nhưng hỏi tiền đâu trước…

Tạo ra cái đen tối tiêu cực, đâu chỉ có Mệnh Thân !

Dịch học.




Thứ Ba, 19 tháng 11, 2013

mệnh-thân qua giờ sinh



MỆNH - THÂN QUA GIỜ SINH
VÀ MỐI QUAN HỆ SAO THÁNG



Một số sao Tháng và Giờ, qua cách an sao, ta thấy có một mối quan hệ tác động vào cung Mệnh và THÂN ở những vị trí bất biến. Từ đó, ta có thể lập được bản đồ Giờ sinh tương ứng :

     1. Sinh giờ Tý
THÂN Mệnh đồng cung. THIÊN HÌNH luôn luôn ở Tật. DIÊU+Y ở Huynh Đệ. TẢ PHÙ ở Phúc. Bất lợi các trường hợp Mệnh đóng tại Mộ cung, hoặc chữ TUYỆT trong vòng TRƯỜNG SINH, gọi là Tuyệt xứ, vì  gặp bố cục thường không hay.

     2. Sinh giờ Sửu
     THÂN cư Phúc. THIÊN HÌNH luôn ở Tài. DIÊU+Y ở Mệnh. TẢ PHÙ ở Điền. Dễ hưởng phúc từ cha mẹ, bà con dòng họ, nhờ Thân Mệnh ở hai bên Phụ mẫu.

     3. Sinh giờ Dần
   THÂN cư Quan. THIÊN HÌNH luôn luôn ở Tử Tức. DIÊU+Y ở Phụ Mẫu. TẢ PHÙ luôn luôn ở Quan. Dễ có sự phiền toái, xung đột với Phụ Mẫu và con cái.

    4. Sinh giờ Mão
   THÂN cư Thiên Di. THIÊN HÌNH luôn luôn ở Phối . DIÊU+Y ở Phúc. TẢ PHÙ luôn luôn ở Nô. Dễ đi xa, sống xa quê hương bản quán. Khắc tính với phối ngẫu.

     5. Sinh giờ Thìn
     THÂN cư Tài. THIÊN HÌNH luôn luôn ở Huynh. DIÊU+Y ở Điền. TẢ PHÙ luôn luôn ở Di. Anh em dễ  xung khắc. Khuynh hướng đi xa làm ăn.

     6. Sinh giờ Tị
     THÂN cư Phối THIÊN HÌNH luôn luôn Mệnh. DIÊU+Y luôn luôn ở Quan. TẢ PHÙ luôn luôn ở Tật. Dễ hình khắc với mọi người vì quá mẫu mực, nghiêm khắc.

     7. Sinh giờ Ngọ
     THÂN và Mệnh đồng cung. THIÊN HÌNH luôn luôn Phụ Mẫu. DIÊU+Y luôn luôn ở Nô. TẢ PHÙ luôn luôn ở Tài.
     Bất lợi các trường hợp Mệnh đóng tại tại Mộ cung, hoặc chữ TUYỆT trong vòng TRƯỜNG SINH, gọi là Tuyệt xứ, vì bố cục thường không hay.

     8. Sinh giờ Mùi
     THÂN cư Phúc. THIÊN HÌNH luôn ở Phúc. DIÊU+Y luôn luôn ở Di. TẢ PHÙ luôn luôn ở Tử. Dễ hưởng phúc từ cha mẹ, bà con nhờ Thân Mệnh ôm lấy Phụ mẫu.

     9. Sinh giờ Thân
     THÂN cư Quan. THIÊN HÌNH luôn luôn Điền. DIÊU+Y luôn luôn ở Tật. TẢ PHÙ luôn luôn ở Phối. Công việc có thể được hổ trợ từ phối ngẫu.

     10. Sinh giờ Dậu
     THÂN cư Di. THIÊN HÌNH luôn luôn Quan. DIÊU+Y luôn luôn ở Tài. TẢ PHÙ luôn luôn ở Huynh. Dễ đi xa, sống xa quê hương. Dễ mê muội vì tiền đưa đến hại họa.

     11. Sinh giờ Tuất
     THÂN cư Tài. THIÊN HÌNH luôn luôn Nô. DIÊU+Y luôn luôn ở Tử. TẢ PHÙ luôn luôn ở Mệnh. Dễ gặp cách Tả Hữu đơn thủ tại Mệnh ly hương sở nghiệp, dễ hình khắc với mọi người.

     12. Sinh giờ Hợi
     THÂN cư Phối. THIÊN HÌNH luôn luôn Di. DIÊU+Y luôn luôn Phối. TẢ PHÙ  ở Phụ Mẫu.. Mẫu mực, nghiêm khắc quá dễ gây khó chịu. Tả Phù đóng tại Phụ Mẫu là hợp lý nhất. Hưởng cách Tả Hữu giáp Mệnh.

Những nhận xét qua mỗi bố cục trên chỉ là phiến diện mang tính gợi mở. Qua cái khung cho ta thấy tính chất có khuynh hướng xúc tác như thế thôi. Cần kết hợp nhiều sao khác để luận giải rõ ràng hơn.

Lưu ý để nhớ nhanh các trục giờ, THÂN cư giống nhau. Ví dụ: sinh giờ Tý- Ngọ, THÂN và Mệnh đồng cung….Sinh giờ Thìn-Tuất, THÂN cư Tài….


STK st




Thứ Hai, 18 tháng 11, 2013

vợ chồng trong Tử Vi



Vợ chồng trong Tử vi

Đây là một bài viết khá thú vị của Dịch Học, từ thế kết hợp của các Chính tinh được tác giả phân luận mối quan hệ tương đối hợp lý của Mệnh cung và Phối cung. Giọng văn dí dỏm, ẩn chứa nhiều ý nghĩa sâu sắc... (STK)

 Các sao trong Tử vi phân bố theo những qui luật nhất định, một trong các qui luật đó là cung Mệnh và cung Phối. Nhiều trường hợp hễ Mệnh có sao này thì cung Phối nhất định phải là sao khác, tức là các sao trong Tử vi yêu nhau rất bài bản !

Mệnh Thất Sát thì phối luôn có Thiên Tướng, Sát nóng nảy khắc nghiệt thì Tướng trung hậu hòa hoãn để bù lại. Tướng có cái thẳng thắn giống Sát nhưng tình cảm, khéo léo. Sát lạnh lùng giá băng nhưng gặp Tướng là “này em ơi em đẹp quá đi thôi, mắt rực tình xé nát tim tôi”! Vẻ hào hoa, phong lưu của Tướng là điều mà một kiếm khách thiện nghệ như Sát rất mơ ước.

Nhưng Tướng lại yêu Tham Lang, Tướng cầu toàn, khó tính nên thích Tham Lang khéo chiều, giỏi giao tiếp. Tham Lang vơ vào để bù lại tính công bằng, vô tư của Tướng. Tướng còn ưa đào kép phong lưu, Tham Lang cũng tham dục vô bờ, nên thành một cặp rất hợp.

Tham Lang lại luôn yêu Thiên Phủ, Tham giàu óc thực tế, trọng vật dục thì người yêu lý tưởng đúng là Phủ rồi. Bản thân đầy đào hoa tính, dễ rung tình thì cần tìm đối tượng bình ổn mà yêu. Phủ vừa có điều kiện vừa ôn hậu chính là mơ ước của Tham Lang. Trong các sao Phủ tốt hàng đầu, không như Tử vi là vua chung, Phủ trực tiếp quản lý tài sản, có tính vượng tài nên là đối tượng của nhiều sao. Tham Lang có lẽ là thợ săn thiện nghệ, vồ ngay Thiên Phủ làm phối ngẫu !

Nhưng Thiên Phủ lại chỉ yêu Phá Quân, điều này thật lạ lùng, kẻ hữu sản, tính cách thâm trầm như Phủ lại đi yêu Phá vừa xấu vừa nóng nảy, tự đắc. Phủ không cần tiền tài ở Phá nhưng có lẽ thích “cá tính” mạnh, ưa độc đáo mới lạ của Phá. Phá luôn mới mẻ, cập thời, có khả năng chủ động cao, thêm tính kiêu căng tự đắc, ưa tiêu xài để cân bằng lại tính ôn hòa, hữu sản của Phủ. Phá còn ham lao động, cần cù chăm chỉ nên càng hợp ý Phủ.

Phá Quân tự mình lại không yêu riêng ai. Lúc thì yêu Tử Vi, khi thì Vũ Khúc, Liêm Trinh. Tức là Phá tạp loạn, ghen ghét Tử vi chính thống nhưng thực ra vì Phá luôn mơ ước cái ghế của Tử vi, nên có khi lại lấy Tử vi. Còn Vũ Khúc kho tài Phá yêu để có ngân quỹ cho chiến dịch tranh cử lật đổ Tử vi là đúng rồi. Nhưng Liêm Trinh nghèo thế sao Phá lại yêu ? Đó là vì khi đó Phá cư Thìn Tuất đại bất lương, nên vì thế chỉ ôm được Liêm cơ hàn, các sao khác đều sợ mà tránh xa. Khi đi cùng chính tinh khác, như Vũ Phá, Tử Phá, Liêm Phá thì cung Phối lại luôn vô chính diệu, tức là Phá bản chất sân hận đố kỵ nên ông không ưa lựa chọn của tôi thì tôi cũng chả cho ông yêu ai, thế là đành lấy Vô chính diệu không cá tính, vô tâm vô địa để tha hồ chỉ huy lên mặt. Các cặp sao đôi của Phá đều xấu nên chỉ yêu được vô chính diệu là hợp lý vì VCD không đủ tầm nhận ra cái dở của cặp đó !

Thiên Cơ luôn yêu Thái Dương, kẻ cơ hội linh hoạt mưu mẹo thì thích ông triết lý bài bản, có uy quyền. Cơ như mưu sỹ đi tìm quyền lực mà nhờ cậy thì Thái Dương chính là hình ảnh mơ ước trong lòng. Cơ gặp Nhật lập tức rên rẩm, ôi ánh sáng của đời tôi là đây rồi, chả cần gì hơn !

Nhưng Thái Dương lại chỉ yêu Thiên Đồng, kỳ lạ thay, kẻ ưa triết lý lại thích cô bé vui vẻ đỏng đảnh, có lẽ để bù lại cái tính khắc nghiệt của bản thân. Nên ngày xưa các cụ đồ nho nhã thế mà rất ưa những trò tom chát, thích gái má phấn môi hồng, vì đó là cách để cân bằng lại mớ chữ nghĩa rối rắm trong lòng. Thiên Đồng chỉ cần tung tẩy phe phẩy cái áo mớ ba mớ bảy là Thái Dương xổ tung hết chữ nghĩa, lăn vào chết mê chết mệt. Ấy bao nhiêu chữ cũng chả hay bằng em đây !

Thiên Đồng chả yêu riêng ai, bản tính dễ thay đổi, lông bông vô định, đứng riêng thì yêu Vô chính diệu hoặc Thiên Lương, đi cặp với sao khác thì yêu chung người tình của sao đó. Tức là cô em xinh đẹp vui vẻ được Thái Dương rất yêu nhưng để em tự chọn thì em lại chả yêu riêng ai, vậy Thiên Đồng có tính đa duyên, dễ yêu, dễ kết hôn.

Thiên Lương luôn yêu Cự Môn, lại là sự bất ngờ, kẻ hiền lành đạo đức lại đi thích Cự Môn đa ngôn bép xép lắm lời. Lương ôn nhu, thành thực nên có lẽ thật thà thường thua thiệt, vì thế yêu Cự Môn đa xảo điêu trá để cân bằng lại. Cự mờ ám bất tường mà làm Lương yêu thì suy ra Thiên Lương óc xét đoán kém, không mạnh về tinh thần. Lương có thể là ông thầy giỏi lý thuyết hơn là tham gia vào các hành động thực tế.

Cự Môn lại yêu Thái Âm, kẻ đa ngôn giảo hoạt mờ ám cần có Nguyệt chiếu sáng để đỡ âm ám, rất hợp lý. Cự còn là sao cá tính cực đoan hay bất mãn nên cần Nguyệt mềm yếu nhu thuận, để khỏi xảy cãi vã mâu thuẫn, do Cự lúc nào cũng sẵn sàng tuôn hàng tràng những lời khó nghe.

Thái Âm chả yêu riêng ai vì Nguyệt bản chất đa cảm, ướt át, đa tình, dễ rung động. Tại Mão Dậu Nguyệt yêu Thiên Cơ nhanh nhẹn linh hoạt. Còn các vị trí đơn thủ khác hoặc đi với Thiên Đồng, Nguyệt chỉ yêu vô chính diệu, để tỏa sáng bản thân mình sang đối tác dù có khi đang mờ mịt u ám (Nguyệt cư Thìn, Tỵ, Ngọ). Từ đó suy ra Thái Âm chỉ yêu chính mình nhất. Nguyệt có tính mê hoặc, ánh trăng có ảnh hưởng rất mạnh đến sự hứng tình của nhiều sinh vật, điều này đã được khoa học biết đến.

Liêm Trinh có tính nghèo lại khắc nghiệt ít tình cảm nên tình ít, khi đi cặp với các sao khác Liêm yêu chung bồ ruột của các sao kia. Còn một mình ở Dần Thân thì Liêm yêu Thất Sát vì Sát cũng nóng nảy, mạnh mẽ. Sách vở cho Liêm có tính đào hoa, vậy tại sao tình lại ít, vì Liêm chính trực, lý trí mạnh mẽ nên không để tình cảm chi phối. Tình yêu của Liêm nặng vì nghĩa hơn vì tình !

Vũ Khúc không yêu riêng sao nào, đi cặp với Phá, Sát, Tham, Phủ, Tướng thì cung Phối là các sao tình nhân của sao đi cùng. Đi với Phá thì yêu Vô chính diệu, tức Vũ Khúc không có tình cảm rõ ràng, thêm tính khắc kỷ nên cô độc. Riêng tại Thìn Tuất đơn thủ thì Vũ yêu Thất Sát, y như Liêm Trinh, vậy Liêm và Vũ phải có tính cách gì đó giống nhau, đó là lý trí mạnh, là sự tiêu xài cẩn thận, yêu Sát vì Sát luôn rạch ròi rõ ràng, không sợ bị lập quỹ đen !

Tử Vi đế tinh thường đi kèm chính tinh khác, nên cung phối là tình nhân của sao đó. Khi đứng riêng một mình ở Tý Ngọ, Tử vi chỉ yêu Thất Sát, ngôi sao nóng nảy mạnh mẽ. Điều này thật kỳ lạ vì Thất Sát được tới 3 sao đơn thủ yêu, đó là Tử Vi, Liêm Trinh, Vũ Khúc. Vậy Sát phải có cái gì đặc biệt hơn các sao khác, đó là cá tính độc lập, chủ động, mạnh mẽ quyết đoán. Sát giỏi nghề thạo việc, đương đầu tốt với nghịch cảnh, chả bao giờ yếu đuối ngã lòng. Sát có sức sống mạnh, là một ưu thế trong đấu tranh sinh tồn, Sát hấp dẫn các sao mạnh mẽ giống mình.

Cuối cùng là Mệnh Vô chính diệu, tình như gió bay, yêu đương lung tung, chả có chủ kiến gì cả. Lúc thì yêu chính tinh, đó là Thiên Lương, Thiên Cơ, Vũ Sát, Liêm Sát, Tử Sát, lúc lại yêu vô chính diệu. Vô chính diệu hợp Nhật Nguyệt mà không bao giờ Mệnh vô chính diệu cung Phối là Nhật Nguyệt cả, điều kỳ lạ này càng cho thấy tính hạn chế trong đầu óc của Vô chính diệu. Nguyệt yêu nhất vô chính diệu để lợi cho cả hai, nhưng Vô chính diệu thì không biết thế. Trăng soi sân nhỏ làm khoảng sân sáng rực nhưng chính cái sân trống rỗng đó lại không tự biết thế là hay. Nguyệt in bóng nước lung linh tuyệt đẹp mà nước không tự biết, thay vì yêu trăng, nước lại mê mải với những bóng mây trôi ngang…

Tổng hợp lại, có thể rút ra một số qui luật đặc biệt. Mệnh có Tử Phủ Vũ Tướng thì phối luôn là Sát Phá Liêm Tham và ngược lại. Hai bộ sao mạnh mẽ hàng đầu này yêu nhau thắm thiết, vậy phải có cái gì tương đương nhau ở cá tính, sự mạnh mẽ. Và để bù trừ, các cặp sao đó cũng có những điểm trái ngược.

Bộ Cơ Nguyệt Đồng Lương luôn chỉ yêu Cự Nhật, hoặc xen vào Vô chính diệu, sự nhu hòa thiếu cá tính mạnh mẽ của bộ sao này thể hiện cả trong tình yêu. Nhưng nếu vì thế mà không yêu Tử Phủ Vũ Tướng hay Sát Phá Liêm Tham thì thật kỳ lạ. Có lẽ vì tình yêu, hôn nhân xuất phát từ cái gì đó sâu xa hơn hẳn là tình cảm cá nhân của con người !

Tử vi cũng chỉ ra nguyên nhân của các mối tình tay ba. Rõ ràng là anh yêu tôi nhất nhưng tôi lại yêu người khác nhất. Sát yêu Tướng nhưng Tướng yêu Tham, Tham lại yêu Phủ, Phủ thì yêu Phá, cứ như đèn cù nó chạy vòng quanh.

Như vậy, việc phân bố sao Tử Vi vào Mệnh- Phối tuân theo các đặc điểm rất rõ ràng thể hiện qua các cặp sao, bộ sao. Từ đó suy ra con người trong xã hội theo quan niệm Á Đông cũng có những thể tạng khác biệt, có thể phân loại giống như khoa học phương Tây đang làm. Chỉ có điều Tử vi đã làm điều đó từ hàng ngàn năm trước phương Tây…

Tác giả: Dịch học